Đỗ Hồng Ngọc's Blog, page 49
October 25, 2019
Thư gởi bạn xa xôi: “Úc du”… một chuyến!
Thư gởi bạn xa xôi
“Úc du”… một chuyến!
Hôm rời Melbourne trời lạnh 8 độ C, về đến Saigon 29 độ. Mưa to, gió lớn ở sây bay Tân Sơn Nhất, máy bay không hạ cánh được, phải bay vòng vòng hơn nửa tiếng đồng hồ nên khá là mệt mỏi, sau 8 giờ bay thẳng từ Úc về Viện Nam. Chênh lệch 4 tiếng, cũng chưa kịp quen. Đã vậy, về đến nhà còn bị cơn Gut hành hạ sau 3 tuần lễ giang hồ vặt ở xứ Kanguru từ Melbourne đến Canberra, Sydney… cho nên, thông cảm nhé. Ai biểu già mà còn ham! “Yamaha” đó, nhớ không?
Chuyện xin visa vào Úc tưởng dễ mà khó, bởi mình đã cao tuổi. Nghe nói làm online nhanh, mình yên tâm làm thủ tục. Mọi thứ trơn tru nhưng gặp rắc rối khi khám sức khỏe. Họ nói thận không tốt lắm. Các chỉ số chưa đạt như yêu cầu, bắt làm thêm linh tinh các thứ. Mình nói thôi dẹp. Nhưng rồi thử coi lại Textbook y khoa của Úc xem sao thì thấy ở tuổi mình các chỉ số như vậy là trong giới hạn bình thường, vả, đây không phải là thứ bệnh (?) lây nhiễm gì cho công đồng, nên thử viết cái thư… Họ bèn coi kỹ lại, OK, cấp ngay visa… 1 năm, đi nhiều lần, mỗi lần không quá 3 tháng và… không làm việc! Việc của mình ở đây làm còn không hết! Chỉ muốn đi chơi một chuyến cho biết cái xứ Úc “thiên đường” nó ra sao. Nhập cảnh ở sân bay Melb, chưa đầy 10 giây đã xong. Họ chỉ dòm qua passport của mình, kêu bỏ cái kiếng ra rồi nở nụ cười, mời qua. Không thấy đóng dấu đóng diếc gì cả, cũng chả hỏi han gì cả. Mọi cửa như cứ mở rộng, chỉ tay đi rẹt rẹt.
Ông anh Đỗ Hồng Tuấn của mình ở Melbourne đã chuẩn bị sẵn kế hoạch đi tour Canberra, Sydney và Great Ocean Road đâu đó cả rồi. Theo yêu cầu của mình, không đi máy bay, xe lửa mà chọn tour xe bus để có dịp ghé đó ghé đây. Ông dặn đi Úc không cần mang theo… tiền bạc và quần áo lạnh, vì tháng 10 Úc đã vào xuân! Sướng chưa? Ai dè đến Úc trời còn lạnh ngắt, đêm 7-8 độ, ngày 11-12 độ. Ai cũng kêu năm nay sao thời tiết lạ quá. Anh Tuấn là con bác Ba, bác ruột của mình, từ nhỏ anh em đã thân thiết, chỉ có điều anh mới 76, nhỏ hơn mình 4 tuổi, bơi lội, tài chí, đi bộ… nên còn khỏe lắm và chỉ cao hơn mình chừng 25cm thôi. Do vậy, quần thì mình mặc đến ngực, áo thì mặc gần tới đầu gối, phải nhờ bà chị cắt ngắn bớt. Anh đi như gió. Kêu mình đi lệt bệt quá anh không thể đi chậm được, thà đi một đoạn rồi đứng chờ còn hơn.

Đỗ Hồng Tuấn và Đỗ Hồng Ngọc trước Chùa Quang Minh ở Melbourne ngày 2-10-2019
Ủa, thành phố Melbourne đây sao? Sao giống Hốc Môn hay Thủ Đức quá vậy? Thì ra nhà ông anh cách City tới 40 phút! Lạ, cái xứ Úc. Họ không đo khoảng cách (không gian) bằng cây số, bằng kilomet mà đo bằng thời gian. Chỗ này cách chỗ kia bao xa? 1 giờ, 35 phút, 18 phút v.v… Và họ khổ vì xe hơi. Nhà nào cũng có hai ba chiếc, mỗi người một chiếc, mà chỉ thích đi xe bus, trame, xe lửa… vì khó tìm chỗ đậu xe. “Carpark” (bãi đậu xe) lúc nào cũng đầy nhóc. Dáo dác tìm một chỗ đậu, có người nhóm xe ra thì vài người… chen vào. Reo lên “lucky, lucky” khi thấy còn một chỗ trống. Cứ “Pay Here” rồi thì cửa mở tự động. Nhiều khi kẹt gì đó cửa không thèm mở. Hệ thống xe công cộng quá thuận tiện. Miễn phí trong nội thành. Giảm phí cho người già…

Nhà anh Tuấn ở St Albans, rộng thoáng và rất yên tĩnh, cách City chừng 40ph.
Quan tâm… hàng đầu của mình đến Úc là mua ngay cái sim card để điện thoại cho bạn bè ở Úc, gọi về Việt Nam, có 3-4G gì đó để có thể sử dụng bất cứ ở đâu, không cần Wifi lôi thôi. Ông anh mua ngay cho một cái xài luôn cả tháng cho đã! Ông chỉ “chịu hổng nổi” mình vài ba chuyện nhỏ: Điện thoại gì mà có cái cave cũ mèm, rách tươm, cầm chụp hình thấy mắc cỡ! Nhưng mình lại khoái cái cũ mèm đó! Rồi còn thêm cái túi rút xanh lè, kiểu túi nhái nhà quê thế kỷ trước, lúc nào cũng lủng lẳng trên lưng, chẳng ra cái thể thống gì cả… Mình cười túi này như túi ba gang, chứa sổ sách, giấy viết, giấy vẽ, áo lạnh, găng tay, tã lót… gì cũng có; lại khi ở trong đám đông người, lỡ có đi lạc, cũng dễ tìm thấy… Ông anh đành cười trừ cái ông em quái dị.
Quái dị nữa là chuyện ăn uống. Lúc nào mình cũng kêu sao ăn ăn nhiều quá. Gặp ai cũng được mời… ăn! Đủ thứ thịt: bò, gà, heo, cá, tôm, mực, sò ốc, rồi cả thịt trừu, cá sấu, kanguru… thứ nào cũng có. Cháo bào ngư mấy cháu trong nhà mời không chịu ăn, đòi ăn cháo trắng với muối… Thiệt chịu hổng nổi!

Melb City
Vậy đó, nếu bạn còn muốn đọc tiếp, thì hồi sau sẽ rõ.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
(26.10.2019)
October 24, 2019
Hồ Đắc Đằng: Vô Kỵ Học Lái Xe
Vô Kỵ Học Lái Xe
Hồ Đắc Đằng
Ghi chú: Bác sĩ Hồ Đắc Đằng là người bạn cùng khóa với tôi tại Y khoa Đại học đường Saigon (1962-1969) vừa có bài viết rất thú vị về chuyện “Vô Kỵ Học Võ” đã được post trên trang này và được rất nhiều bạn bè chia sẻ. Hôm nay anh gởi thêm bài Vô Kỵ Học Lái Xe cũng rất độc đáo.
Xin chia sẻ cùng các bạn.
Cảm ơn Hồ Đắc Đằng.
Đỗ Hồng Ngọc
………………………………………………………..
Vô Kỵ bây giờ đã trưởng thành, quyền cước điêu luyện, tâm thần sảng khoái, tánh tình khoan thai, điềm đạm. Hai thầy trò ngoài chuyện võ nghệ còn hay ngồi thiền với nhau. Vui nhiều. Một hôm thầy nó gọi nó vào.
– Vô Kỵ này. Ở đời không chỉ có đánh võ và tham thiền. Nếu đánh võ mà không có tham thiền thì cả 2 bên dễ bị gãy sườn, dập lách lắm. Ngoài đời dập lách nhiều lắm. Con phải xuống núi để dạy cho người ta vừa đánh võ vừa đỡ địch thủ kiểu múa Tango thì ai ai cũng vui, không còn ai thắng ai bại nữa. Ngoài đời thì rộng, chân con thì ngắn, đi bộ thì không biết bao giờ mới đến người ta được. Phật hồi xưa, ổng làm gì có xe. Ổng tà tà đi bộ, đôi khi đến chỗ người cần ổng giúp thì người đó đã chết mất rồi. Bây giờ mình có xe, mình đi được để đến giúp người khác. Con phải biết lái xe.
– Thưa thầy – Vô Kỵ nói – Con thấy lái xe dễ ợt. Con thấy mấy đứa con nít, mấy bữa trước còn mang tã, ngậm núm vú, mấy bữa sau tuyên bố với mẹ nó là nó 16 tuổi rồi nó muốn lái xe. Thế là bà mẹ phải bứt đầu, bứt tai đi mua cho nó một chiếc xe nhỏ cho nó lái, nó chạy phăng phăng, dễ ợt thưa thầy.
– Nầy Vô Kỵ. Chạy phăng phăng không hẳn là dễ. Chạy phăng phăng rồi vô phòng cấp cứu, đôi khi vô thẳng nhà xác là thường đó con. Chạy phăng phăng mà an toàn trên xa lộ mới là cái nghệ thuật của lái xe. An toàn cho mình và an toàn cho người mới là cái khó. Một kiểu Tango đó Vô Kỵ ạ. Lái nhường, lái nhịn là lái Tango. Con phải nhớ cái nầy.
Vô Kỵ: Thưa thầy, con thì thích cái gì nhanh. Đối với thầy, gió thổi nhè nhẹ trên mặt thầy là thầy đủ vui rồi. Con thì gió phải thổi bay tóc ra sau như khi con chạy xuống dốc núi thì con mới khoái. Lái xe mà cứ lái 5 dặm/giờ thì ai mà chịu được thưa thầy.
– Vô Kỵ này. Thầy không bảo là con phải chạy chậm luôn luôn. Đức Phật, ngồi yên một chỗ, chẳng nhúc nhích gì hết mà ổng cũng đủ vui rồi. Con còn ở đời. Con phải lái xe. Lái nhanh cũng được, lái chậm cũng được. Tùy lúc. Lái nhanh chẳng sao cả. Với một điều kiện.
– Điều kiện? Điều kiện gì thưa thầy? Đường phải không có ổ gà? Trời phải không có bão có tuyết? Phải không có sương mù khói phủ? Con sẽ rất cẩn thận.
– Vô Kỵ ơi. Con còn nông cạn quá. Mắt con sáng, phản xạ con nhanh, thời tiết tụi nó báo con biết trước từ 3–4 ngày trước thế mà tai nạn chết người vẫn xảy ra hằng ngày đó thôi. Tại sao con biết không?
– Xin thầy chỉ giáo.
– Tại vì không có cái thắng (phanh) tốt. Vậy đó con, người đời, xe của họ cái gì cũng tốt hết: máy mạnh, chạy nhanh ; đèn sáng, thấy rõ ; cảnh đẹp, mùi thơm 2 bên đường thì nhiều ; vui nhộn không thiếu ; chỉ thiếu có một cái thắng (phanh) tốt.
Con người ta có “3” cái xe: xe Thân, xe Khẩu (miệng) và xe Ý.
Cái thắng (phanh) của “xe Ý” là cái yếu nhất của người đời. Nếu con chưa thông thạo võ nghệ của thầy dạy thì con phải kiểm tra cái thắng nầy thật kỹ đấy. Một ý nghĩ bất thiện nảy ra là phải có đèn đỏ chớp lên trên dashboard của con.
Kế đến, là cái thắng của “xe Thân”. Cái nầy con đã thuần thục với kinh nghiệm học võ vừa qua. Con không còn có thể làm cho người khác, vật khác đau được nữa. Tụi Mỹ nó gọi “Do no harm to others and to yourself”. Con đã đạt đến cái thắng này qua học võ.
Kế đến là cái thắng của “xe Khẩu”. Cái thắng này ít người để ý lắm! Nó không có đèn đỏ trên dashboard. Thắng này nếu nó không ăn, không chạy thì cũng ít ai hay biết. Nó (Khẩu) xuất “ra” đều đều, làm ai cũng đau, ai cũng giận mà mình vẫn không hay. Con nhớ trong Bát chánh đạo có một cái gọi là Chánh ngữ. Cái miệng của người ta ngộ lắm Vô Kỵ ạ. Miệng người ta có 2 chức năng: một là để Ăn, hai là để Nói. Ăn thì ai cũng biết. Vô Kỵ, con có nhớ lúc thầy dạy võ cho con những năm đầu, thầy đã dạy con ăn không?
– Vâng thưa thầy. Con còn nhớ là con muốn ăn chay vì con thương tất cả thú vật. Con không muốn tụi nó phải chết để con được sống. Chính thầy đã dạy con phải biết ăn trong Chánh niệm, và biết ăn trong một tâm thức biết ơn. Eating in mindfulness and gratitude.
– Vô Kỵ, con giỏi lắm. Đó chỉ mới có một chức năng của miệng thôi: Ăn. Còn cái chức năng kia là Nói. Con có biết là thầy trước khi học võ, thầy làm nghề gì không?
– Thưa thầy, con thấy thầy hay dạy con về tinh bột, đường, mỡ, chất đạm (protein), có vẻ thầy là một nhà khoa học sinh vật học?
– Thầy thuốc, Vô Kỵ ạ. Thầy là một thầy thuốc. Thầy chỉ dạy cho bệnh nhân về dinh dưỡng là mấy cái thức ăn này. Đức Phật là một thầy thuốc (y vương), dạy người đời về cái chức năng thứ hai của cái miệng, là cái xuất “ra”: Lời Nói. Cái “vô” là đồ ăn, cái ra là “lời nói”. Mấy cái ra này mới là cái ngộ nhất đấy. Cái “vô” mà sai quấy, nó chỉ hại cho một người thôi, người ăn. Cái “ra” mà lạng quạng là nó hại người khác không kể xiết được. Nhiều khi đại chiến xảy ra cũng chỉ vì mấy cái xe không có thắng này.
– Làm sao có một cái thắng tốt thưa thầy?
– Thắng tốt cho Ý: tham thiền. Thiền định là con quán chiếu cái ý của con, từng giây phút. Bông hoa thơm con cũng hay mà như cứt bò con cũng biết. Tùy con, nếu con thấy cứt bò là thơm thì con cứ theo, chẳng ai cản con được cả. Làm sao con biết cái ý nào của con là cứt bò?
– Xin thầy chỉ dẫn. Nhiều khi con cũng khoái cứt bò. Ra chợ mua Cow manure về bón hoa, tốt đáo để.
– Cứt bò kiểu đó không sao cả. Cũng tốt thôi vì hoa của con nở, người khác cũng được thơm lây. Cái cứt bò “ý” là khi nào con thấy ai cũng là cứt bò hết thì chính con là cứt bò đấy. Con nhớ chuyện Tô Đông Pha và sư cụ tham thiền với nhau thầy kể con khi xưa?
– Làm sao thắng cái Khẩu (miệng) này, thưa thầy? Con đọc Chánh ngữ trong Bát chánh đạo dài dài mà sao lâu lâu con cũng còn nói mấy cái mà con không được hài lòng lắm…
– Chẳng hạn?
– Thưa thầy, nói láo thì con không còn nói láo được nữa rồi. Nhưng mà đôi khi trong một cuộc nói chuyện với nhiều bạn khác, khi có người nào đó nói về một vấn đề gì đó thì con cũng hào hứng chen vào với những mẩu chuyện tương tợ để kể cho cả nhóm nghe! Nghĩ lại mà mắc cỡ. Tại sao mình lại cũng “quơ đũa cả nắm” theo họ cho vui vậy nhỉ. Vui cái giống nhau. Vui mình cũng giống bạn mình, cùng nghề, cùng sở thích, cùng xã hội. Con cứ ngẫm nghĩ rồi mắc cỡ cho cái miệng hay nói theo của mình. Con thấy con không phải là con nữa. Một mình thì con là con mà vô một nhóm “phe ta” thì con lại mất con. Mất mình. Làm sao bỏ được tật nầy, thưa thầy?
– Giỏi, giỏi lắm, Vô Kỵ con. Con biết mắc cỡ sau khi con nói mấy cái đó là con giỏi lắm đó. Nhiều người khác không thấy, không biết mấy cái mắc cỡ đó và tiếp tục cái tật “nói theo” này suốt đời họ. Muốn còn đi lại với mấy người như vậy, con phải tập cái tâm con cho nó mạnh. Dĩ nhiên, con phải có một cái thắng thứ thiệt, đạp một cái là đứng lại, là dừng lại ngay. Dừng lời nói.
– Tập cái thắng? Cái thắng nầy tập được? – Vô Kỵ tò mò hỏi thầy.
– Dĩ nhiên, cái gì trên đời nầy cũng tập được hết. Không có ai sanh ra, 2 tuổi vừa mới biết đi đã biết cưỡi xe đạp 1 bánh, 2 tay cầm 8 cây dùi cui quăng lên trên trời mà không cây nào rơi xuống đất, miệng lại thổi kèn harmonica. Đó là tập thân. Tham thiền là tập ý. Tập nói là tập thắng.
– Xin thầy dạy con tập Nói.
– Có 3 người giữ cửa. Miệng của con có 3 anh chàng giữ cửa: 1) Có thật không? (Is that true?). 2) Có tử tế không? (Is that kind?) và 3) Có cần thiết không? (Is that necessary?)
Nếu sau khi duyệt xét 3 cửa đó mà thoát hết thì cái lưỡi của con nó nói được. Đó là Chánh ngữ.
Vô Kỵ con, có nhiều người cho rằng lời nói là một cái huyền diệu mà Thượng đế ban bố cho loài người. Con phải cẩn thận. Huyền diệu thì cũng có thật mà tai hại thì cũng không thiếu. Lời nói là một công cụ (tool). Nó có thể làm một vết thương lành lại mà nó cũng có thể làm cho người khác đau thêm. Mà con thì đã qua cái ngưỡng cửa không còn muốn làm cho bất cứ ai hay vật nào đau nữa. Do vậy cái Khẩu (miệng) xuất “ra” của con, con phải có một cái thắng thật tốt.
Khi mà thắng con tốt rồi, thì chạy nhanh, chạy chậm không thành vấn đề. Dĩ nhiên, chạy chậm dễ dừng, chạy nhanh phải thấy xa. Nghe thầy nói nãy giờ, con học được cái gì về lái xe?
– Thưa thầy, xe con có 3 cái thắng mà cái thắng con phải dùng nhiều nhất là cái thắng của Miệng (Khẩu): Đó là lời nói. Nói sao cho người vui, nói sao cho người thanh thoát.
– Đúng vậy Vô Kỵ. Để thầy kể cho con nghe chuyện Mẹ của thầy dạy thầy thế nào nhé. “Nầy con, hễ có nói thì nói Pháp. Còn không thì tốt nhất là đừng nói”.
HĐĐ.
October 23, 2019
Bông hồng cho Mẹ và Mới hôm qua thôi: bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp của TVD và Elena Pucillo Truong
Bông hồng cho Mẹ và Mới hôm qua thôi
(bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp của TVD và Elena Pucillo Truong)
Ghi chú:
Tôi vừa nhận được bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp hai bài thơ của tôi (Bông Hồng Cho Mẹ và Mới Hôm Qua Thôi) do TVD và Elena Pucillo Truong thực hiện lúc tôi đang còn ở Melbourne.
Nay xin trân trọng gởi đến bạn bè và chân thành cảm tạ TVD – Elena Pucillo Trương.
Đỗ Hồng Ngọc
(Đỗ Nghê).
…………………………………………………………………………………………………………
Thơ Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê)
( Bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp của TVD và Elena Pucillo Truong)
Bông hồng cho Mẹ La rosa per la madre La rose pour la mère
“Con cài bông hoa trắng Io mi attacco la rosa bianca “ Je m’attache la rose blanche
Dành cho mẹ đóa hồng Lascio a te, mamma, la rosa rossa, À toi, maman, je laisse la rose rouge
Mẹ nhớ gài lên ngực Ricorda di attaccartela sul petto Souviens-toi de l’attacher sur ta poitrine
Ngoại chờ La nonna ti aspetta La Grand-Mère t’attend
bên kia sông…” dall’altra parte del fiume de l’autre côté du fleuve…”
Đỗ Hồng Ngọc (Vu lan 2012)
Trong một nhà giữ lão ở Montreal (Đỗ Hồng Ngọc)
La poesia scritta al Nursing home a Montreal (Đỗ Hồng Ngọc)
Le poème écrit à la Maison de Retraite de Montreal (Đỗ Hồng Ngọc)
“Mới hôm qua thôi”. Soltanto ieri Juste hier
Họ ngồi đó Stanno lì, seduti Ils restent là, assis
Bên nhau Insieme. Ensemble.
Đàn ông Uomini Des hommes
Đàn bà Donne Des femmes
Không nhìn Senza guardare Sans regarder
Không nói Senza parlare Sans parler
Họ ngồi đó Stanno li, seduti Ils restent là, assis
Gục đầu Le teste abbassate Les têtes baissées
Nín lặng In silenzio En silence
Ngửa cổ Alza la testa La tête levée
Giật nhẹ tay chân Braccie e gambe tremano Les bras et les jambes qui tremblent
Có người C’è qualcuno Il y a quelqu’un
Trên chiếc xe lăn Sulle sedie a rotelle En fauteuil roulant
Chạy vòng vòng Gira qua e là Qui tourne ici et là
Có người C’è qualcuno Il y a quelqu’un
Trên chiếc xe lăn Sulla sedia a rotelle En fauteuil roulant
Bất động Immobile Immobile
Họ ngồi đó Stanno li, seduti Ils restent là, assis
Hói đầu Le teste pelate Les têtes chauves
Bạc trắng O i capelli d’argento Ou les cheveux blancs argentés
Móm sọm Presto sdentati Tôt sans dents
Nhăn nheo Rugosi Ridés
Mới hôm qua thôi È solo da ieri Juste hier
Nào vương Quali imperatori En tant qu’empereurs
Nào tướng Quali generali En tant que généraux
Nào tài tử Quali artisti En tant qu’artistes
Nào giai nhân Quali miss universo En tant que Miss Univers
Ngựa xe Carrozza trainata da cavalli Calèche à chevaux
Võng lọng Ombrelli parasole Ombrelles parasols¹
Mới hôm qua thôi Soltanto ieri Juste hier
Nào lọc lừa Quali inganni Quelles duperies
Nào thủ đoạn Quali colpi di mano Quelles astuces
Khoác lác Bugie Des mensonges
Huênh hoang E Vanità Et de la Vanité
Mới hôm qua thôi Soltanto ieri Juste hier
Nào galant Quali signori Quels messieurs
Nào quý phái Quali nobili Quels nobles
Nói nói Parlare Parler
Cười cười Ridere Rire
Ghen tuông Gelosia Jalousie
Hờn giận Rabbia Rage
Họ ngồi đó Stanno lì, seduti Ils restent là, assis
Không nói năng Senza parlare Sans parler
Không nghe ngóng Senza ascoltare Sans écouter
Gục đầu Teste piegate Les têtes pliées
Ngửa cổ Teste alzate Les têtes levées
Móm sọm Sdentati Édentés
Nhăn nheo Rugosi Ridés
Ngoài kia Mentre Fuori Alors que dehors
Tuyết bay Cade la neve Tombe la neige
Trắng xóa Candida Blanche
Ngoài kia Mentre fuori Alors que dehors
Dòng sông Il fiume La rivière
Mênh mông Immenso Immense
Mênh mông… Immenso Immense
Đỗ Hồng Ngọc (Montréal, 1993).
Voir Racinet, Le costume historique , Firmin-Didot, Paris, 1888 sur les costumes et les insignes des mandarins chinois, qui employaient des parasols dont la largeur et la couleur indiquaient les différents rangs. (racinet_costume.doc ou racinet_costume.pdf).
(Racinet, Le costume historique, Firmin-Didot, Paris, 1888 sui costumi e le insegne dei mandarini cinesi, che usavano degli ombrelli diversi per larghezza e colore, che indicavano I diversi ranghi.
(racinet_costume.doc ou racinet_costume.pdf).
EPT Saigon- 6-2019
October 21, 2019
Rồi Cũng Về Thôi: viết cho Du Tử Lê
RỒI CŨNG VỀ THÔIi
(tặng Tuyền-Lê)
Rồi cũng về thôi du tử ơi
Bao năm lưu lạc cõi con người
Một hôm sực nhớ miền quê cũ
Tung cánh vàng xưa hạc vút bay…
Đỗ Hồng Ngọc
(Melb, 14.10.2019)
September 25, 2019
Nhân năm học mới, đọc lại “Phỏng vấn Bs Đỗ Hồng Ngọc”
Ghi chú: Chiều hôm qua, 24.9.2019, là buổi học đầu năm dành cho Sinh viên Năm thứ nhất Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp HCM, do Bộ môn Y đức-Khoa học hành vi-Giáo dục sức khỏe (mà tôi nguyên là Trưởng Bộ môn và sau đó là Cố vấn) phụ trách, Bộ môn đã có nhã ý mời tôi tiếp tục giảng cho các em như mọi năm nhưng tôi đã từ chối vì biết mình tuổi tác cách biệt đã hơn 60 năm, mà khoa học y học ngày nay tiến bộ như vũ bão…
Tuy vậy, bài “phỏng vấn Bs Đỗ Hồng Ngọc” của Hà Thanh, báo Tuổi Trẻ, trong “Chuyên mục Thời tuổi trẻ của tôi” trước đây có thể “post” lại để các em tham khảo vì có những câu hỏi liên quan đến vấn đề “chọn nghiệp”, vấn đề y đức v.v…
Cảm ơn Hà Thanh.
ĐHN
…………………………………………………………………
Hà Thanh phỏng vấn Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
(Chuyên mục “Thời Tuổi trẻ của tôi” 2011- tuoitre.vn)
Xin bác sĩ tự “phác họa” đôi dòng về mình?
Đó là một người có cái tên rất “đàn bà” nhưng lại làmột người đàn ông thứ thiệt. Hồi tôi giữ mục Phòng mạch Mực Tím trên báo Mực Tím dành cho tuổi mới lớn, nhiều em viết thư: Thưa cô, em có điều này rất bí mật, không dám nói với ai…
Thứ hai, đó là một ông già mà nhiều người tưởng hãy còn trẻ lắm, nhờ tóc chưa bạc nhiều và viết lách lăng nhăng làm cho người ta cười…
Thứ ba, đó là một bác sĩ nhà quê đến nỗi người ta không biết là bác sĩ, vì toàn nói chuyện làm sao cho người ta biết tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe mình, ít phải lệ thuộc vào thầy vào thuốc…
Ai là người có ảnh hưởng lớn trong quãng đời tuổi trẻ đã qua của bác sĩ? Bác sĩ kể cho nghe một chút về người đó đi ạ?
Hai người. Cậu tôi, ông Nguiễn Ngu Í (Nguyễn Hữu Ngư). Ông là một nhà báo nổi tiếng trên Bách Khoa của hơn nửa thế kỷ trước ở Saigon, nhưng cũng là một người điên nổi tiếng, điên thứ thiệt, từng nằm nhà thương Chợ Quán, dưỡng trí viện Biên Hòa nhiều lần… Lúc ở dưỡng trí viện, ông có xuất bản một tập thơ lấy tên là “Thơ điên thứ thiệt”, với sự góp mặt của Bùi Giáng và nhiều “bạn thơ” khác đang nằm ở đó… Người thứ hai là học giả Nguyễn Hiến Lê. Mặc dù không được học với ông ngày nào trên ghế nhà trường nhưng với tôi, ông vẫn là một vị thầy lớn vì ông đã dạy tôi cách sống, cách học và cách viết…
Bác sĩ đã trải qua tuổi thơ như thế nào ạ?
Lúc 5 tuổi thì tôi cùng gia đình tản cư lên rừng ở vùng Láng Găng, Bưng Riềng, Xuyên Mộc… Bị sốt rét triền miên, kiết lỵ, suy dinh dưỡng… đủ thứ. Khi cha tôi mất thì tôi 12 tuổi, theo mẹ về Phan Thiết tá túc trong một ngôi chùa với người cô bị tật nguyền. Tôi nhớ lúc đó cân nặng được 25kg, da xanh mét, lá lách sưng to. Mỗi ngày đi nhà thương thí để chích thuốc. Riết rồi ghiền cái mùi nhà thương. Cô tôi nghèo lắm. Sống bằng nghề chằm lá buông. Tôi phụ phơi lá trong sân chùa. Nhớ những khi trời mưa thì ào ào cuốn lá… chạy! Sáng nào mọi người cũng ăn một chén cháo trắng. Có điều cô và các chị tôi rất mê truyện Tàu, mê tiểu thuyết đủ loại. Tôi được sai đi mướn truyện nhưng cấm đọc (vì con nít mê đọc truyện không tốt). Tôi thường lén đọc trên đường đi, dưới gốc cây, nơi bệ đá cổng chùa… trước khi mang về. Đọc tuốt hết, không chừa thứ gì trong tiệm cho thuê sách đó. Tôi được dạy phải tôn trọng chữ thánh hiền, không được lấy giấy báo đi vệ sinh! Thế rồi, một hôm cậu Ngu Í điên của tôi đến thăm. Người ta nói ông điên vì ngộ chữ, vì học nhiều quá hóa điên. (Ở quê tôi ông là người hay chữ nhất, được bà con rất quý trọng. Ông là bạn học cùng tuổi cùng lớp với Trần Văn Khê, Lưu Hữu Phước… ở trường Petrus Ký thời đó). Thấy tôi 12 tuổi rồi mà học hành ấm ớ trong rừng, ông dẫn tôi tới trường tiểu học của một người bạn, gởi cho học miễn phí. Ông còn tặng tôi một đống sách báo từ Saigon mang về. Tôi mê tít.
Việc học ngày xưa của bác sĩ như thế nào? Bác sĩ hãy kể cho nghe những kỷ niệm khó quên ở khoảng thời gian này?
Mới đầu trường cho tôi vào học thử lớp Ba. Vài tháng sau, nói tôi học được, cho lên lớp Nhì (lớp 4 bây giờ). Vài tháng sau nữa cho tôi vào thẳng lớp Nhất (lớp 5). Trường tư, trong một ngôi chùa, điều kiện nếu học giỏi thì được miễn học phí. Tôi học giỏi. Cuối năm nhất lớp, chở phần thưởng về… chùa bằng xe xích lô! Cô tôi khen ngợi thưởng cho 10 đồng, đủ ăn 5 chén chè sâm bổ lượng với mấy người bạn thân! Nghĩ lại, tôi thấy cái hồi học tùm lum trong rừng hóa ra mình đã được “luyện nội công” mà không hay, rồi lúc ở chùa luyện cả đống truyện Tàu và tiểu thuyết nữa. Hồi 12 tuổi, tôi viết nhật ký, viết nhận xét phê bình này nọ mỗi khi đọc xong một cuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn nào đó… Tôi thi đậu cao vào Đệ thất (lớp 6) Phan Bội Châu… Hằng ngày vừa đi học, vừa lo cơm nước cho mẹ tôi bán hàng ngoài chợ. Thế rồi, giữa chừng lại bỏ học, vì cả gia đình dời về quê cũ Lagi, Bình Tuy. Tỉnh mới thành lập, chưa có trường trung học. Tôi lại thất học, phụ bán hàng xén với mẹ ở chợ Lagi. Ba năm sau mới có lớp Đệ thất đầu tiên trong một ngôi nhà thờ (hết chùa tới nhà thờ!). Nhớ lại chuyện học nhảy lớp tưng bừng của mình hồi nhỏ, tôi tính chuyện học nhảy tiếp để theo kịp bạn bè. Nhân một chuyến theo xe chở cá nước đá về Saigon bổ hàng cho mẹ, tôi lang thang lề đường, nơi bán sách cũ, vớ được cuốn “Kim chỉ nam của học sinh” của tác giả Nguyễn Hiến Lê. Tôi đọc, thấy trúng ý mình quá. Tôi bèn đánh bạo viết thư hỏi ý kiến ông, nói muốn học nhảy lớp, có nên không. Ông trả lời ngay: Cháu có thể học nhảy lớp được, vì đọc thư, thấy sức cháu có thể học lớp Đệ tứ (lớp 9) rồi đó. Tôi bèn lập chương trình học nhảy lớp. Thi đậu ngay Trung học đệ nhất cấp, lại nhảy tiếp, bỏ đệ tam, đậu Tú tài I rồi Tú tài II, sau đó đậu vào trường Y khoa. Y khoa thời đó học 7 năm, ra Tiến sĩ Y khoa quốc gia. Hết nhảy được nữa! Tuy vậy, tôi cũng đã ghi danh học thêm Văn khoa, Xã hội học, những ngành mà tôi thích. Tóm lại, tôi mê học và học cho đã. Tôi thấy mình hên, thi đâu đậu đó, nhưng phải nói là nhờ biết cách học, nhất là biết cách tự học. Tôi nghĩ học sinh muốn giỏi phải có chí và biết tự học. Những năm này tôi đã vào Saigon “du học”, ở nhà trọ, ăn cơm tháng trong khu ổ chuột Bàn Cờ và thường xuyên đến thăm ông Nguyễn Hiến Lê. Ông luôn động viên, khuyến khích việc học của tôi. Trong một bức thư ông viết mong sau này tôi dùng ngòi bút để mang lại lợi ích cho nhiều người hơn trong nghề nghiệp bác sĩ của mình. Khi báo Bách Khoa ra số đặc biệt kỷ niệm 100 đầu sách của ông, tôi viết bài “Ông Nguyễn Hiến Lê và tôi”. Ông nói đây là “món quà” quý nhất của ông. Ông đã coi tôi như một người học trò “chân truyền” rồi vậy.
Vì sao bác sĩ chọn nghề Y? Đi trên con đường này một thời gian dài, có lúc nào bác sĩ muốn rẽ sang một hướng khác hoặc thoáng nghĩ rằng mình đã không chọn đúng con đường phù hợp với mình hay không?
Trước hết có lẽ vì thấy cha mình chết trong rừng do thiếu thầy thiếu thuốc, bản thân hồi nhỏ phải vào nhà thương thí thường xuyên, nên tôi có ý muốn học Y. Thế nhưng khi đậu Tú tài toàn phần xong, tôi băn khoăn trước ngã ba đường giữa học Y, học Sư phạm hay học Văn khoa. Cái nào cũng thích. Ông Nguyễn Hiến Lê lần nữa lại khuyên nên học Y để giúp gia đình, giúp đời cụ thể hơn, nếu học giỏi có thể dạy học và nếu có tâm hồn, vẫn có thể viết lách được. Đã có nhiều nhà văn là bác sĩ như Tchekhov, Cronin, Somerset Maugham… Tôi đã làm đúng như thế thật.
Sao lại phải rẽ sang hướng khác? Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Tiếp cận với những cảnh đời, những con người, chẳng phải cũng là một nguồn cảm xúc để cầm lấy cây bút sao?
Kỷ niệm nào sâu sắc nhất trong công việc của bác sĩ?
Ra trường ba năm, tôi viết cuốn sách đầu tay: Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972). Cuốn sách này do ông Nguyễn Hiến Lê đề tựa. Ông viết rất trang trọng và có một câu mà tôi nhớ mãi: “Một bác sĩ mà là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị”. Tôi mê văn chương, làm thơ, vẽ tranh… từ nhỏ. Khi còn là sinh viên, đã xuất bản thơ, viết báo… Nói khác đi, không phải ra trường làm bác sĩ rồi mới cầm bút. Với tôi, bác sĩ là cái “nghề”, còn văn chương là cái “nghiệp”. Tôi mê cả hai.
Bác sĩ có thể kể vài kỷ niệm về những lúc bị công việc cuốn hút mà quên đi sức khỏe của mình được không ạ? Gia đình có than phiền, “rầy rà” để bác sĩ chú tâm hơn đến sức khỏe của bản thân và chăm lo gia đình nhiều hơn không?
Tôi có tật xấu: mê học cũng như mê làm việc. Cái gì mê quá cũng không tốt. Một lần bị xuất huyết tiêu hóa, ngất xỉu trong toilet lúc đang khám bệnh phải đưa đi cấp cứu. Một lần bị tai biến mạch máu não phải mổ sọ với hai lỗ thủng… Lần mổ sọ não có một kỷ niệm đáng nhớ: Lúc đang còn nằm trần truồng trong phòng hậu phẫu, chỉ đắp một tấm “ra” trắng mỏng trên người thì một em điều dưỡng tới chích thuốc, hỏi có phải là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc Phòng mạch Mực Tím không, tôi ú ớ gật thì nghe em kêu lên mừng rỡ: Các bạn ơi, lại “coi” bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nè! Bốn năm cô chạy tới quanh giường coi mình trong tình thế đó! Thì ra lâu nay đọc báo Mực Tím, các em biết tên mà chưa biết mặt… Rồi tôi còn nghe kể bạn bè mở tiệc ăn mừng. Không phải mừng tôi bệnh nặng mà mừng họ chưa bệnh. Lâu nay tôi vẫn là người thường khuyên họ đừng uống rượu, đừng hút thuốc lá mà!
Tôi may mắn được gia đình ủng hộ, vì biết tánh tôi vậy, không “rầy rà” chi cả! Tôi vẫn nhớ ông Nguyễn Hiến Lê khuyên: Đừng để nghèo túng, nhưng khi đủ ăn rồi thì đừng ham làm giàu, dành thì giờ làm chuyện khác có ích hơn…
Ai cũng có những lúc đau buồn, tức giận, chống chếnh… trong cuộc sống riêng. Có bao giờ tâm trạng đó làm ảnh hưởng đến công việc của bác sĩ không? Bác sĩ làm cách nào để tránh hay giảm bớt?
Có chứ. Nhưng cũng phải vượt qua thôi. Những năm có tuổi, nhất là sau đợt bị tai biến, tôi nghiên cứu sâu và thực hành thiền, thấy có nhiều hiệu quả, góp phần giải stress và giữ đời sống cân bằng hơn. Đặc biệt trong thời buổi hiện nay cuộc sống có quá nhiều căng thẳng thì ở góc độ y học, thiền đã được nghiên cứu như một liệu pháp. Thực tế, thiền không chỉ dừng ở đó.
Theo bác sĩ, y đức có quan trọng hơn tay nghề, kỹ thuật chuyên môn không? Bác sĩ từng trả lời trên tạp chí Sống khỏe rằng “Chuyện y đức của người thầy thuốc hôm nay – đang bị xã hội ta thán – thì không phải lỗi ở họ”. Bác sĩ có thể nói rõ hơn về điều này không ạ?
Không nên tách bạch. Hai cái là một. Có y đức suông mà không có tay nghề, kỹ thuật chuyên môn thì… hại người ta nhiều hơn, làm cho người ta “đau” nhiều hơn. Còn giỏi kỹ thuật chuyên môn mà thiếu y đức thì làm cho người ta “khổ” nhiều hơn. Người thầy thuốc phải quan tâm cả cái đau và cái khổ của con người. Tiếng Việt ta thật dễ thương: đau khổ, bệnh hoạn… luôn là những từ kép!
Y đức không đơn giản, không phải là một khẩu hiệu. Nó phải được học tập và rèn luyện xuyên suốt trong quá trình học y khoa nhiều năm và trong quá trình hành nghề. Nó phải được dạy đầy đủ ở trường, riêng và chung với các môn học khác. Rồi về tổ chức, phải có nghiệp đoàn nghề nghiệp (Bác sĩ Đoàn chẳng hạn) để quản lý chuyên ngành, với những đặc thù riêng của nó, có luật lệ riêng phải tuân thủ, đó là Nghĩa vụ luận y khoa (Déontologie médicale), quy định từng hành vi trong mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân. Nghề y là một nghề đặc biệt, đào tạo lâu dài, nặng nhọc, trách nhiệm cao, “người bệnh phó thác tánh mạng” trong tay thầy thuốc nên họ cần được xã hội tôn trọng và “đối xử” đúng mực. Hiện nay có khuynh hướng coi bác sĩ tốt nghiệp y khoa 6 năm như một cử nhân đại học 4 năm và lương hướng của một bác sĩ trẻ mới ra trường chỉ bằng… một phần ba người nuôi bệnh ở các bệnh viện! Đó là những “chuyện lạ” ngoài tầm tay của người thầy thuốc vậy.
Khi bắt đầu qua tuổi hưu, bác sĩ có hụt hẫng không ạ? Bác sĩ đã trải qua bước chuyển đó như thế nào?
Tôi không cảm thấy có bước chuyển nào cả! Nghề y vốn là một nghề độc lập. Người thầy thuốc có thể làm việc suốt đời nếu còn đủ sức khỏe. Nghề văn cũng vậy, là một nghề tự chủ, có thể làm việc suốt đời, nếu còn thấy hứng thú…
Bác sĩ có lời khuyên gì cho những bạn trẻ mong muốn chọn ngành y làm con đường đi ạ?
Rất hoan nghênh các bạn trẻ này. Đây là một ngành đang có nhu cầu rất lớn của xã hội. Nhưng chọn học y là chọn con đường gian nan, hằng ngày trực diện với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người (sanh, bệnh, lão, tử)… Phải thực sự yêu nghề và có năng lực. Nói chung, học y cần có một lý tưởng nhân đạo, một “tiếng gọi sâu thẳm” (vocation) của nghề nghiệp. Nếu học y để mong đầu tư… làm giàu trên bệnh nhân thì không nên! Thực ra học y cũng rất thú vị, nhiều thử thách, đòi hỏi trách nhiệm cao. luôn đứng trước lương tâm của mình. Hạnh phúc rất lớn khi thấy mình sống hữu ích cho gia đình, cho cộng đồng, cho xã hội. Bà con mình thường nói “Cứu sống một mạng người bằng lập… năm bảy kiểng chùa” phải không?
Cảm ơn bác sĩ rất nhiều ạ.
Hà Thanh
(thanhlth@tuoitre.com.vn)
September 20, 2019
Thư Hai Trầu gởi Đỗ Hồng Ngọc về chuyện “Để Làm Gì?”
Thư Hai Trầu gởi Đỗ Hồng Ngọc
Về chuyện “Để làm gì?”
Lời thưa: Thưa anh Hai Trầu,
Tôi phải thành thật xin lỗi anh Hai:
Không ngờ bài viết “tào lao” của tôi “Thư gởi bạn xa xôi” vừa rồi (Để làm gì?) đã làm anh Hai bị “tụt mood” (nói theo cách tuổi teen bây giờ) nên sanh ra chán nản mọi việc, đến nỗi dù đã sẵn bản thảo cuốn Người Đọc & Người Viết III rồi mà chẳng chịu cho in dù mấy cháu hối “Ba in mau mau để vài ba năm nữa Ba sẽ quên hết!”…
Anh căn dặn bức thư này anh viết cho tôi “đọc chơi” thôi, đừng có post lên mạng, không ngờ tôi “đọc thiệt” và thấy nó rất có ích cho tôi, cho anh, cho chúng ta… và cho nhiều người khác nữa, nên xin phép anh cho tôi đăng đại lên đây, ai phiền trách gì tôi… xin chịu trách nhiệm.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
(20.9.2019)
……………………………………………………………………………………………………….
Houston ngày 18 tháng 9, năm 2019
Kính gởi Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,
Nhớ mới cách nay không lâu cùng ngồi uống cà phê với bác sĩ ở Đường Sách Sài Gòn, vậy mà ngày qua ngày, nay sực nhớ lại thì đã tròn một năm rồi đó bác sĩ! “Thời giờ thắm thoát thoi đưa” thiệt mà! Và nay nhìn lại mình, tôi thấy sao mau già quá mạng, bác sĩ ơi!
Và rồi mới mấy bữa trước đọc được “Thư gởi bạn xa xôi” của bác sĩ, bác sĩ có nhắc ông André Maurois trong cuốn “Nghệ thuật già” (L’art de vieillir) có nói rằng: “Khi nào trong đầu mình nảy ra cái ý “Để làm gì?” thì lúc đó mình đã già thiệt rồi!”; thì đúng y chang là tôi dạo này lại có ý nghĩ mỗi khi muốn làm điều gì, tôi hay tự hỏi “để làm gì?”
Chẳng hạn như vào tháng 5-2019, gặp bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn Lữ Kiều, và chị Thanh Hằng, hiền thê của ảnh, tôi nhận ra phong cách anh chị là phong cách của người Sài Gòn của mấy chục năm về trước lúc tôi còn nhỏ từ dưới làng quê lên Sài Gòn đi học, một phong cách mà tôi luôn trân quý và kính trọng! Và rồi tôi có viết một bài về Sài Gòn với cái tựa “Nhớ Sài Gòn…”; nhưng rồi bài viết xong, cứ để đó hoài, không muốn gởi cho ai đọc!
Hoặc như, có lần thấy cảnh xuồng ghe cũ mục cứ nằm lăn lóc bên lề đường hoặc trong khu vườn cây rập rạp hết tháng này qua tháng khác, rồi tôi lại nghĩ đến thân phận mình, đến một lúc nào đó tuổi già chồng chất và thế hệ mình rồi cũng hết xài như những chiếc xuồng nằm phơi nắng phơi sương bốn mùa; nên tôi ngồi xuồng viết một bài về thân phận những chiếc xuồng bị bỏ quên lăn lóc giữa nắng mưa bên lề đường với cái tựa “Lời tự sự của những chiếc xuồng cũ mục”. Vậy mà rồi, viết rồi, tôi cũng chẳng muốn gởi cho ai đọc và đọc những lời tự sự của kiếp đời tàn tạ ấy “để làm gì?”
Hoặc như mấy tháng trước trong năm nay, người ta ùn ùn kéo nhau coi chiếc cầu Vàm Cống đã bắc qua hai bờ con sông Hậu Giang khúc Lấp Vò và Thốt Nốt, tôi định viết một bài về “Nỗi niềm của bến bắc Vàm Cống”. Vậy mà rồi, tôi đã viết về một bến bắc có mặt nơi một khúc sông có gần 95 năm (từ 1925-2019) đưa rước khách qua sông, nay bến bắc ấy chỉ còn là hoài niệm của những người già mỗi lần họ có dịp đứng nơi bờ sông bên này nhìn qua bớ sông bên kia với những chiếc bắc 10, bắc 20 nay đã thui thủi dời đến một bến sông nào khác rồi! Biết đường đâu mà mò!
Hoặc như, lúc đầu năm nay, tôi dự định sẽ viêt thêm vài mùa cũ nữa rồi gộp vô các mùa trước đó đã in thành sách đâu chừng trên ba mươi mấy mùa để tái bản cuốn Mùa Màng Ngày Cũ in lại hồi 2017 mà lần đó Bác sĩ có viết lời giới thiệu, nay sách đã hết rồi; nhưng rồi tự dưng cũng thấy lòng mình bớt hăng hái về việc in lại Mùa Màng Ngày Cũ nữa rồi! Chắc cũng tại ông André Maurois nhắc cái ý nghĩ “Để làm gì?” của người già!
Hoặc như, sắp nhỏ tôi nhắc: “Ba muốn in sách gì thêm thì chuẩn bị rồi tụi con lo in, để vài ba năm nữa Ba sẽ quên!” Tôi mới coi lại còn bản thảo cuốn Người Đọc & Người Viết Quyển III, dày khoảng 600 trang, lúc đầu rồi cũng muốn in; lúc trước có hai cuốn I và II rồi, nay in cuốn III cho vui, nhưng nghĩ đi nghĩ lại rồi tôi lại thôi, không cần in thêm sách nữa và mình nghĩ in sách ra cho nhiều “để làm gì?”
Hoặc như, hôm tháng 7-2019, vợ chồng tôi có dịp theo con cháu về Boston tìm lại cái nôi lúc các cháu mới qua đây bắt đầu lại những ngày đi học từ những năm mà Bác sĩ cũng có mặt nơi thành phố Boston này để tu nghiệp về Y Tế Công Cộng tại Harvard (Boston, 1993)). Tôi cũng ghé qua phố Tàu ở Boston để tìm lại cái cảm giác “gió co ro lạnh” trong Thơ Ngắn Đỗ Nghê mà anh Tô Thẩm Huy đã nhìn ra có lúc ảnh cũng đến phố Tàu ở Boston để nghe “gió co ro lạnh” như thế nào…
Anh Tô Thẩm Huy viết: “…tôi cũng một mình lang thang ở phố Tàu Boston. Tuyết không rơi, nhưng chao ơi gió lộng, và lạnh thấu trời. Hai tai muốn rụng xuống vì mũ đội không che phủ được hai tai. Chính nhờ thế nên khi viết về bài thơ Tuyết của anh Đỗ Hồng Ngọc tôi đã rất “phê”. “Gió” mà nó còn phải “co” thì Tô Thẩm Huy này làm sao mà không “ro” được.]
Tuyết
Tuyết bay
Bay nhẹ
Phố tàu
Gió co
Ro lạnh
Phố
Đìu hiu
Theo…
(Đỗ Nghê, Boston 1993).
Thưa bác sĩ,
Cứ tiếp tục như vậy, nhiều ý nghĩ muốn ghi lại lắm như mới đây anh Năm Hiền bên California gởi cho đọc bài viết của cô Nguyễn Thị Hậu viết về “Mùa vịt chạy đồng”; sau khi đọc xong, tôi dự định viết một bài về “mùa nuôi vịt chạy đồng” chi tiết hơn, thực tế hơn nhưng rồi lại làm biếng quá mạng, chỉ viết nửa chừng chừng năm, mười trang rồi bỏ đó và tự hỏi viết ra “để làm gì?”
Hoặc nữa, như Bác sĩ biết tính tôi là ưa nói lại cho trúng các chi tiết của bất cứ một bài viết của bất cứ tác giả nào mỗi khi họ viết về đời sống ở nhà quê mà tôi có dịp được đọc, tôi thấy chưa đúng là tôi sữa lại liền, để không khéo người đọc chưa sống ở nhà quê, họ tưởng các tác giả viết như vậy là đúng rồi, rồi từ đó cứ nghĩ lầm rằng nhổ bông súng là phải lặn xuống nước nhổ từng cọng, từng cọng; hoặc cá rô cam tích là cá rô tôm tích; hoặc một giạ là 20 lít như có các tác giả đã giải thích trong bài viết như vậy!
Thực sự thì nhổ bông súng chỉ ngồi trên xuồng đang nằm giữa cánh đồng đầy bông súng nỏ, người ta chỉ vói bàn tay cầm bông súng rồi nhổ mạnh lên thôi, không cần phải lặn hụp gì ráo trọi! Còn cá rô lúc nhỏ ở nhà quê hay gọi là cá rô non; chúng ăn bông cỏ cùng các loại phiêu sinh vật trên mặt nước làm cái bụng no óc nóc giống như trẻ nhỏ mắc bịnh cam tích; từ đó dân quê mới đặt tên cho loại cá rô non này là “cá rô cam tích” chứ hổng có “cá rô tôm tích” gì ráo trọi nhe Bác sĩ! Còn cái vụ “một giạ mà 20 lít”, nếu mình tin như tác giả bài viết này giải thích thì chắc dân quê tụi tôi bán lúa giống là cái chắc! Dốt gì thì dốt, dân quê tụi tôi dưới này từ xưa tới nay cứ theo qui định một giạ là 40 lít nhe Bác sĩ! Nửa giạ hoặc một thùng, hoặc một táo mới 20 lít.
Và còn nhiều cái trật tương tự như vậy nhiều lắm nhe Bác sĩ! Nhưng rồi, tôi lại tự hỏi mình viết ra mấy cái chưa trúng ấy “để làm gì?” Và rồi tôi lại bỏ dỡ những bài viết về những chi tiết không chính xác của nhiều tác giả mà tôi đã có dịp đọc qua như vừa kể…
Thưa Bác sĩ,
Trong thư vừa kể, Bác sĩ có nhắc Hai Trầu:
“Gởi “meo” cho anh Hai Trầu, người bạn hơi già của tôi hỏi sao lâu nay im re, anh nói già sao nhanh quá anh ơi, chả muốn làm gì cả. Thì ra, tuổi già, đúng là “Chả cần gì! Chỉ cần già!” là vậy.”
Thì ra, qua những lời tâm sự vừa rồi với Bác sĩ, nay tôi thấy mình như Bác sĩ gợi ý là “Chả cần gì! Chỉ cần già!”. Và qua một vài ý nghĩ về việc “để làm gì” ấy mà tôi muốn chi xớt cùng Bác sĩ chẳng những đó là một chọn lựa không mang một chút chán nản nào trong đời sống của tôi trong hiện tại, mà ở đó nó còn thể hiện là một nếp sống rất thiết thực, yêu đời với những công việc thân thiết mỗi ngày mà tôi đang bận rộn như làm vườn, trồng cây, nuôi cá, và đưa rước các cháu đi học mỗi ngày… Vui lắm nhe Bác sĩ!
Cá nhân tôi, xin chân thành cảm ơn tấm thạnh tình mà bác sĩ lúc nào cũng nhớ và nhắc Hai Trầu, nhiều lắm!
Thân kính,
Hai Trầu
September 13, 2019
Tựa CHỚ QUÊN MÌNH LÀ NƯỚC, Văn Công Tuấn
Ghi chú:
Văn Công Tuấn ở bên trời Tây, tôi ở bên Đông, cách nhau ngàn vạn dặm, chưa có dịp gặp nhau nhưng tình đã thân quen vì cùng có chung những người bạn quý: Thầy Phước An ở Nha Trang, Nguyễn Hiền Đức gốc Hội An và Nguyễn Minh Tiến ở Sông Xoài dạo trước…
Một hôm, Văn Công Tuấn gởi về tôi một bản thảo và đề nghị viết cho anh đôi dòng như một cái “Tựa” gì đó… cho cuốn sách “Chớ quên mình là nước”. Và tôi đã đọc, đã nghe, đã thấy… bèn có đôi lời cho bạn xa xôi…
ĐHN
Tựa “CHỚ QUÊN MÌNH LÀ NƯỚC”
Như những lời tâm sự
Văn Công Tuấn viết trong “Chớ quên mình là nước” như sau: “Những bài viết trong tập sách này chỉ là việc đi chắt mót, ngồi xâu chuỗi lại những suy tư và nỗi niềm để tâm sự cùng bạn đọc. Nó không phải là công trình khảo cứu cũng chẳng là tác phẩm văn học. Nó chỉ là một cõi lòng…”
Một cõi lòng. Chút “thốn tâm”. Chắt mót. Xâu chuỗi. Nhưng với tôi vô cùng thú vị và đầy những bài học. Có khi nói ra, có khi không nói ra. Là một cõi lòng nên ta hãy đọc từ một cõi lòng. Một cõi lòng không phân biệt.
Có khi là một câu thơ. Có khi là một khúc hát. Khi lại là một công thức. Một bản vẽ. Mấy con số ngoằn ngoèo… Hãy đọc. Ngẫm ngợi. Đôi khi công thức cũng là thơ, bản vẽ cũng là nhạc… Hãy để cho cõi lòng tự trôi chảy.
Trôi chảy như dòng sông cát hôm nay mà ngày xưa chính nơi này là dòng nước chảy xiết, nơi Gotama đã đặt bình bát với lời đại nguyện:
“… một buổi trưa nóng cháy ở Bodh Gaya lắng tai nghe lời anh bạn Ấn Độ kể: ‘Chỗ này là ngay giữa sông Ni Liên Thuyền, ngày xưa Sa môn Gotama đã thả bình bát và phát lên một lời đại nguyện, chỗ này nước chảy xiết lắm nhưng bình bát đã trôi ngược.’
“(…) Khi anh Naresh với tất cả lòng cung kính đặt bình bát xuống cát, nơi được xem như là giữa dòng sông lúc bình bát trôi ngược.
Tôi thì đã nằm dài dưới cát nóng cầm sẵn máy ảnh để chụp hình. Tôi muốn chụp tấm hình phía trước là bình bát mà đàng sau có phông nền là hình ngôi Tháp Đại Giác Bồ Đề. Chăm chú nhìn vào ống kính, tôi giật mình tưởng mắt mình đang hoa. Hay do vì buổi trưa nắng Ấn Độ mà cát lại nóng quá nên tôi bị lóa mắt? Tôi đẩy máy ảnh qua bên và nhìn kỹ bình bát. Tôi đã nhìn thấy. Vâng, tôi thấy bình bát chuyển động trong vòng gần một phút. Có thể nào do cát lún nên bình bát “rục rịch” như vậy? Hay là một cái rùng mình của đất trời?
Nhưng sao kéo dài cả phút. Trong tôi dấy lên một niềm rung động kỳ lạ. Naresh cũng thấy như tôi và đứng ngẩn người trố mắt nhìn. Có phải có bàn tay chư Thiên hay có con rắn chuyển mình làm bình bát chuyển mình trên cát?
“Không, tôi nghe rất rõ: “hồn nước” đang nhẹ nhàng luân chuyển dưới nguồn sâu trong lòng cát nóng buổi chiều Ấn Độ.
“Hai chúng tôi đứng yên lặng tại địa điểm lịch sử này rất lâu, mỗi người đắm chìm trong suy nghĩ của mình. Sau đó mới cùng nhau chậm rãi ôm bình bát đi về hướng cây Ajapala ở Tháp Đại Giác.
Chúng tôi thỉnh bình bát về khu vực tháp và kết thúc một chuyến đi: Ôm bình bát dõi theo bước chân Sa môn Gotama ngày xưa”…
Rồi từ câu chuyện của dòng sông nay đã trở thành sa mạc cát mênh mông, Văn Công Tuấn nói về chuyện môi trường, chuyện nylon, mủ nhựa…
“Xin cùng nhau bắt tay ngay cứu hành tinh của chúng ta, trước khi nỗ lực đi chiếm hữu Sao Hỏa hay Cung Trăng. Với lòng tham và tâm bất thiện thì dù con người có sở hữu mười Sao Hỏa, trăm Cung Trăng cũng không thấy đủ. Rồi rác cũng sẽ tràn ngập ở bên đó.
Mà đúng vậy, không phải nói chơi, NASA đã xác nhận, ngay bây giờ cũng đã thấy plastic trên Sao Hỏa rồi đó. Thật hết ý!”
Rồi ngẫm ngợi chuyện xưa chuyện nay, Văn Công Tuấn… tự nhắc mình với những bài học:
Cũng tại bát nước mà Tôn giả A Nan đã gặp gỡ Ma Đăng Già hôm đó. “Người đâu gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có…” để rồi Phật phải vất vả một phen. “Tựu trung cũng từ một bát nước ấy mà sinh sự. Giả sử, hôm đó Tôn giả A Nan cũng đi khất thực như mọi ngày mà không khát nước thì đâu có chuyện gì xảy ra. Hoặc giả, nếu gặp người con gái không đa tình như Ma Đăng Già thì chỉ có vài mẩu đối thoại ngắn, rồi dâng nước, rồi uống nước là xong chuyện.”
Bài học là đừng có… khát nước!
Rồi chuyện của nhà bác học Alexander Fleming (1881-1955) ân nhân vĩ đại của nhân loại đã phát minh ra Peniciline đã tuyên bố tại Hàn Lâm Viện Y Khoa Anh Quốc: “Sao người ta cứ gán cho tôi cái công phát minh ra chất Peniciline. Không ai phát minh ra được chất Peniciline, vì tạo hóa đã sinh ra nó từ thuở nào đến giờ, nhờ một loại mốc… Tôi chỉ có công làm cho mọi người chú ý tới chất đó, và đặt cho nó cái tên, thế thôi.”
Phật cũng bảo Ta chẳng nói gì, Ta chẳng dạy ai điều chi, mọi thứ đã sẵn có đó thôi!
Rồi chuyện Nhà Nho và Phật giáo. Anh nhắc học giả Cao Huy Thuần kể chuyện nhà nho, nhà khoa học Hoàng Xuân Hãn… ngày ngày đi chùa Trúc Lâm ở Paris vì rằng “Nho thì động mà Phật thì tịnh. Động rồi thì phải tịnh thôi.” Văn Công Tuấn kể chuyện cụ Phan Sào Nam, nhà Nho với “Khổng Học Đăng” sau này đã thường xuyên lui tới chùa và viết “Phật Học Đăng”. Cụ Sào Nam thường tìm đến chùa Tường Vân để hàn huyên, bàn chuyện văn thơ, chuyện thế sự và Phật pháp với Hòa thượng Thích Tịnh Khiết. Hai con người uyên thâm Hán học ấy đã một thời là bạn tâm giao, chỉ khác: một người là Hòa Thượng, một người là Nho Sĩ.
Nước xuôi ra biển lại tuôn về nguồn.
***
“Chớ quên mình là nước”, Văn Công Tuấn ngậm ngùi sẽ đến lúc “dưới biển cá thôi bơi, trên trời chim hết lượn…” để rồi nhắc đến cái chết của dòng sông Cửu Long.
Anh nói, đọc cuốn ký sự Đi Dọc Dòng Sông Phật Giáo tự dưng thấy sao… nước mắt tự động chảy ra, không cầm được:
Bởi vì chiều buồn chiều về giòng sông
Bởi vì tình đời nào chỉ thù oán
Hãy cất tiếng ca cho đời thêm buồn
Hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo…
(Phạm Duy)
“Vậy một con rồng của Tiền Giang đã chết. Ở Hậu Giang thì hiện nay, cửa sông Ba Lai được thay thế bằng hệ thống cống đập ngăn mặn chặn vĩnh viễn dòng chảy…”
“Cửu Long bây giờ là 7 con rồng. Nói sao nghe khó lọt lỗ tai quá.
“Hèn chi chật chội. Hèn chi sinh sự!”
Rồi cảm thán:
“Có phải vì vậy mà người Khmer gọi Mê Kông là Dòng Sông Mẹ. Tiếng Miên chữ “Mê” là “mẹ” còn “Kông” là “sông”. Tại sao? Vì những chàng, những nàng có tên gọi “Buổi chiều Lục tỉnh” hay ham vui, hay dzô dzô ba xị đế, hay hò ơ dí dầu, hay đàn ca tài tử… Nhưng khi buồn quá thì những trò vui đó không khỏa lấp hết nỗi buồn, những chàng hay nàng “Chiều” mới tìm về với Cửu Long. Tâm sự với dòng sông. Yên lặng với dòng sông. Như chàng Tất Đạt của Hermann Hese đã về với dòng sông và lắng nghe dòng sông. Chỉ có dòng sông mới nghe, mới hiểu nổi buồn của Chiều”.
Để rồi kết:
“Nhớ da diết đám lục bình trôi trên sông Tiền, sông Hậu. Không biết giờ này chúng lưu lạc ở đâu?”
Phải. Như những phận người.
Chớ quên mình là nước.
Đỗ Hồng Ngọc
Saigon, tháng 6.2019
September 11, 2019
Thư gởi bạn xa xôi (9.2019)
Thư gởi bạn xa xôi (9.2019)
“ĐỂ LÀM GÌ?”
Đỗ Hồng Ngọc
André Maurois trong cuốn “Nghệ thuật già” (L’art de vieillir) có nói rằng khi nào trong đầu mình nảy ra cái ý “Để làm gì?” thì lúc đó mình đã già thiệt rồi!
Tôi vừa mới nói “già thiệt” phải không? Ấy, bởi vì lâu nay mình vẫn biết là đã già, đang già tốc hành, già khú đế mà vẫn cứ nghĩ là mình đang “già giả” thôi! Mà không phải mình tôi nghĩ đâu nha. Ông họa sĩ “trời ơi” là Picasso có cái hình này bạn coi nè.
Ông vẽ cái “già” chẳng qua chỉ là cái mặt nạ thôi, đeo chơi vậy, trong khi trong ta là một cậu thanh niên trai trẻ, tươi non, hừng hực lửa yêu thương đó thôi. Tôi vừa gọi Picasso là ông họa sĩ “trời ơi” phải không? Là bởi vì theo tôi, trường phái “trườu tượng” của ông thực ra chỉ vì ông có quá nhiều người yêu, vẽ mà như thực chắc chịu hổng nổi với mấy bà, bèn vẽ bà này cái mũi, bà kia cái mắt, bà nọ cái môi… rồi chồng chéo lên nhau thế là ổn cả, mặc cho các nhà phê bình nghệ thuật diễn giải, ổng chỉ cười tủm tỉm một mình thôi!
Tôi bây giờ cứ định làm gì đó thì bỗng nảy ra ý: Để làm gì? Chẳng hạn gặp một chuyện gì đó vui vui, hay hay, xưa thì đã “thư gởi bạn xa xôi” kể cho bạn nghe, hoặc cũng “Ghi chép lang thang” chút gì đó, nhưng nay “Để làm gì?”. Ngay cả những vấn đề cần tranh luận, cần giải thích, cần đưa quan điểm chung riêng gì đó, nhưng rồi cũng… “để làm gì?”. Vậy đó.
Rồi tôi lại loay hoay “về thu xếp lại…” một mình giữa ngổn ngang tư liệu, sách vở, gặp chuyện buồn chuyện vui không thiếu định chia sẻ với bạn rồi “để làm gì?”. Gởi “meo” cho anh Hai Trầu, người bạn hơi già của tôi hỏi sao lâu nay im re, anh nói già sao nhanh quá anh ơi, chả muốn làm gì cả. Thì ra, tuổi già, đúng là “Chả cần gì! Chỉ cần già!” là vậy.
Chủ nhật rồi, tôi đi Hốc Môn thăm BTD, người bạn đã thân quen từ 60 năm trước, năm 1960 từng đi chơi suối Lồ Ồ với Nguiễn Ngu Í, Lê Phương Chi, Hồ Xích Tú (con ông Hồ Hữu Tường), Quách Giao (con nhà thơ Quách Tấn), Nguyễn Công Thuần… Anh vốn là người mê văn chương, mê sách cổ, vốn có một vườn cây kiểng, đá kiểng… nổi tiếng một thời, bây giờ đang… Alzheimer, quên hết mọi thứ. Nhắc chuyện xưa, nhớ chút chút… Anh nhứt định đòi tôi tặng anh cuốn “Già sao cho sướng?” mà cũng không biết sướng “để làm gì?”.
Một hôm, tôi ra ngồi một mình ở café Đường Sách, trời còn lành lạnh sau cơn bão rớt, chăm chú đọc La Sơn Phu Tử của Hoàng Xuân Hãn, bỗng một cô bé áo vàng đến hỏi dạ bác tên gì ạ? Tôi ngạc nhiên, ngó lên. Để làm gì? Dạ để chú thích cái hình con mới chụp lén bác, một ông già đang mê đọc sách nè… Bác không có tên con ạ. Tôi trả lời. Cô thất vọng bỏ đi. Tôi tội nghiệp hỏi. Con làm việc ở đâu? Con tập sự ở báo…, mới ra trường, làm ở phòng… muốn đăng hình phải có tên người. Ờ, sếp con là ai? Cô nói tên đến người Sếp thứ ba, thứ tư gì đó… tôi mới à một tiếng có biết. Bác làm nghề gì? Cô hỏi lại. Con đoán xem. Hình như bác làm ngành giáo dục? Có một chút. Bác làm bên văn học nghệ thuật? hay Báo chí? Có một chút. Tôi đành khai. Bác làm bên ngành y. Bác là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Cô ngẩn ra. Người bạn đi cùng cô à hình như có một nữ bác sĩ tên là Đỗ Hồng Ngọc, con có đọc đâu đó một bài thì phải. Cô áo vàng bỗng reo lên: À, gõ Google coi nào! Cô bấm bấm cái điện thoại. Ồ, bác có trong Google này. Tôi nói thêm. Con thử gõ dohongngoc.com xem. Cô lại ồ bác có “chấm com” nữa hả? Chiều đó, cô gởi tôi cái hình chụp lén và nói con may mắn được quen biết bác…
Cũng ngộ phải không? Cô bé chỉ nhỏ hơn mình chưa tới 60 năm, huống chi cái ông Từ Thức lên non mấy tháng trở về đã nhiều trăm năm trôi qua mà còn đi hỏi thăm người này người nọ!
Lục trong đống thư từ cũ thấy có một thư viết tay của một em bé 15 tuổi ở Bến Tre nói em tình cờ đọc cuốn “Gió heo may đã về” của tôi (1995) bèn mua về cho Ba Mẹ. Ba mẹ em tuổi mới ngoài 50, hục hặc nhau luôn, từ ngày đọc cuốn này đã thôi không còn gây gỗ nữa, em rất mừng viết thư cảm ơn. Nhưng bất ngờ nhất là có một em coi cuốn Nghĩ Từ Trái Tim, viết về Tâm kinh Bát-Nhã (2003), mua về đọc cho Bà Nội nghe vì thấy bà nội thường tụng Tâm kinh hàng ngày. Bà nội thích lắm, bắt đọc cho nghe hoài… Đến khi bà mất, em đã đem cuốn sách Nghĩ từ trái tim đó “đốt” theo Bà!
Toàn chuyện “tào lao” phải không. Đừng phiền nha. Thôi thì nói qua chuyện khác vậy. Bạn biết đó, thơ Đường (thất ngôn bát cú) là thứ thơ ngày nay ít ai để ý (trừ Tô Thẩm Huy, trước đây giữ mục Đùa với Đường thi trên báo). Tôi nhớ Nguyên Sa có nói muốn làm thơ Tự do cho hay thì phải giỏi thơ Đường trước đã! Bạn nhớ nhà thơ Tường Linh không? Đây là một bài thơ anh gởi mấy năm trước.
Và đây nữa , bài thơ tôi viết mừng nhà thơ Huy Cận, trong buổi kỷ niệm Tuổi 80 của ông ở Saigon. Đọc vui thôi nhe. Đừng có kêu “Để làm gi” nhe.

bản thảo viết tay của Đỗ Hồng Ngọc tặng nhà thơ Huy Cận, 1999.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
September 9, 2019
Du Tử Lê viết về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc)
Nhà thơ Du Tử Lê viết về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc) kỳ 02
Xin mời các bạn xem tiếp kỳ 02 nhé.
Cảm ơn Du Tử Lê
ĐHN
…………………………………………………………..
Đỗ Hồng Ngọc, thơ và thiền song sinh?
Du Tử Lê
December 15, 2017
Nhà thơ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc. (Hình: Trang nhà của Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc – dohongngoc.com)
Tôi cũng không quên mới đây, nhà thơ Phạm Chu Sa đã ghi nhận một cách chi tiết, chân tình về Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc. Nhưng dù các bài viết về cõi-giới văn chương của ông, thâm trầm hay nhẹ nhàng, đơn giản thì, tự thân những bài viết ấy, cũng đã thắp sáng những thành tựu, hiểu theo nghĩa “hạnh phúc” mà Đỗ Hồng Ngọc đã đạt được.
Nhà thơ Phạm Chu Sa cho rằng, nhiều người nghĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ làm thơ, viết văn và gọi anh là bác sĩ-nhà văn (4).
Nhưng Phạm Chu Sa cho biết, ông vẫn thích gọi Đỗ Hồng Ngọc là “thi sĩ hơn là bác sĩ,” bởi vì Đỗ Hồng Ngọc có cốt cách thi sĩ trong con người bác sĩ.
Phạm Chu Sa kể rằng Đỗ Hồng Ngọc làm thơ và có thơ in từ thời sinh viên – tập “Tình Người” (xuất bản năm 1967), ký bút hiệu Đỗ Nghê. Mấy năm sau khi ra trường là “Thơ Đỗ Nghê” (in năm 1973). Tập thơ đã gây được tiếng vang trong văn đàn thuở đó. Sau này ông trích một số bài trong hai tập thơ trên in lại trong các tập thơ “Giữa Hoàng Hôn Xưa” (1993), “Thư Cho Bé Sơ Sinh và Những Bài Thơ Khác” (2010).
Bài thơ làm tựa chính “Thư Cho Bé Sơ Sinh…” Đỗ Hồng Ngọc viết năm 1965, khi còn là sinh viên y khoa thực tập tại bệnh viện Từ Dũ: “Khi em cất tiếng khóc chào đời/ Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười/ Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao kẻ cười người khóc/ Trong cùng một cảnh ngộ nghe em…/ Khi anh cắt rún cho em/ Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé/ Vì từ nay em đã phải cô đơn/ Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ… Thôi trân trọng chào em/ Mời em nhập cuộc/ Chúng mình cùng chung/ Số phận con người” (Một bài thơ đặc biệt vì dường như chưa nhà thơ nào viết về đề tài này).
Vẫn theo trí nhớ của nhà thơ Phạm Chu Sa thì đâu khoảng thời gian sau ngày ký hiệp định Paris (1973) ít lâu, họ Đỗ đã gửi tặng ông tập “Thơ Đỗ Nghê” mới xuất bản, in ronéo nhưng trình bày khá trang nhã. “Thơ Đỗ Nghê” bàng bạc khát vọng hòa bình và cả nỗi ám ảnh của chiến tranh, đã gây được tiếng vang trong văn đàn bấy giờ. Họ Đỗ ru con: “Ngủ đi con ngủ đi con/ Rồi ngày mai khôn lớn/ Cầm súng với cầm gươm.”
Và ông cũng ru người bạn đời (hay người yêu?) của mình: “Ngủ đi cưng, ngủ đi cưng/ Kề tai đây anh bảo/ Coi như mình chẳng có quê hương.”
Vẫn nhà thơ Phạm Chu Sa cho biết, hơn 20 năm sau biến cố Tháng Tư, 1975, Đỗ Nghê đã cho ra đời tập thơ “Vòng Quanh” – một “bút ký thơ” kèm những ký họa rất đặc biệt của chính tác giả vẽ lại những nơi chốn tác giả đã đi qua như Huế, Hà Nội, Boston, Montreal, Bắc Kinh… Nhưng có lẽ ấn tượng nhất với họ Đỗ là Paris. Một tâm hồn thi sĩ như Đỗ Hồng Ngọc mà lạc lối tới Paris giống như… “trở về.” Thơ viết về Paris tựa viết về một tình yêu, sau bao chờ đợi… Có dễ vì thế mà gần phân nửa tập thơ, là những tình khúc họ Đỗ dành cho Pais?
***
Để chấm dứt bài viết của mình, nhà thơ Phạm Chu Sa khẳng định: “Tôi nghĩ sau này người ta có thể quên một bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhưng người ta không quên Đỗ Hồng Ngọc thi sĩ.”
Không chỉ Nguyễn Lệ Uyên hay Phạm Chu Sa mà còn nhiều bằng hữu khác, ghi nhận về tiếng thơ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc như một thành tựu tốt đẹp, dẫn người đọc tới kết luận những người làm thơ, được nhiều người ưa thích, là những người có được cho họ niềm hạnh phúc tinh khiết trong cuộc sống thực tế chấp chới những khổ đau, bất toàn này.
Đa số bằng hữu của họ Đỗ cho rằng về hạnh phúc có được từ thơ, của Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc khiến tôi thấy cảm nhận của tôi về những “lao động” thi ca của những người làm thơ có phần không đúng. Ít nhất cũng đối với Đỗ Nghê.
Tôi càng thấy sự “cường điệu hóa” (?) của tôi về hành trình của thi ca của Đỗ Nghê trong quá khứ là những nhận định thiếu cơ sở – tiêu biểu là thi phẩm mới nhất, có tên “Thơ Ngắn/Đỗ Nghê” của ông.
Tôi không muốn nói về những bài thơ ngắn của họ Đỗ, có xu hướng thơ Haiku của Nhật bản: Ngợi ca thiên nhiên hoặc tương tác giữa con người và vũ trụ,… đã hiện diện khá nhiều trong thi phẩm mới nhất của ông. (5)
Người đọc sẽ rất khó tìm thấy những bày tỏ bi quan, hoặc than thở, “vật vã” trong thơ Đỗ Nghê, nhất là với thi phẩm “Thơ Ngắn/Đỗ Nghê” mới ấn hành những ngày cuối năm 2017 này. Ngay cả khi tác giả viết về phần thịt, xương đã mất, như:
“Mỗi năm
Mỗi người
Thêm một tuổi
Chỉ mình con
Mãi mãi
Tuổi đôi mươi…”
(Bài “La Ngà 3” – 1990)
Hoặc tương quan với kẻ khác:
“Khi nhìn nhau xa lạ
Là rất đỗi thân quen
Khi nói năng vô nghĩa
Là thác reo trong hồn.”
(Bài “Không Tên”)
“Lá chín vàng
Lá rụng
Về cội
Em chín vàng
Chắc rụng
Về anh.”
(Bài “Lá”)
Hay ảnh hưởng của thiên nhiên, vũ trụ lớn vào vũ trụ nhỏ là cá nhân con người:
“Tuyết bay
Bay nhẹ
Phố tàu
Gió co
Ro lạnh
Phố
Đìu hiu
Theo”
(Bài “Tuyết” – Boston, 1993)
“Chiều thu
Nghe tiếng quạ
Giật mình
Nỗi xa nhà
Nhớ sao
Mà nhớ
Quá!”
(Bài “Thu” – Boston, 1993)
“Đất động ta cũng động
Sóng thần ta cũng sóng
Giật mình chợt nhớ ra
Vốn xưa ta là đất”
(Bài “Đất”)
“Nước xanh như ngọc
Sâu đến tận trời
Vốc lên một vốc
Ơi mùa Xuân ơi!”
(Bài “Tuyền Lâm”)
Ngay cả khi nhớ tới và viết về đứa con đã mất của mình, một tai họa khủng khiếp, ai cũng tưởng, Đỗ Nghê sẽ không thể vượt qua được. Nhưng, tâm thái của một hành giả: Hiểu thấu sống, chết… cách gì cũng không ra khỏi lẽ vô thường, họ Đỗ đã nhìn sự việc như một bài học tự nhiên đời sống mà thôi:
“Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút
Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con
Nỗi mất!”
(Bài “La Ngà 5” – 1990)
Hoặc về người mẹ đã qua đời mình, ông vẫn có cái thanh tịnh lạc quan, của một tâm thức không còn trụ, bám vào mất còn:
“Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…”
(Bài “Bông Hồng Cho Mẹ” – 2012)
Hoặc:
“Mẹ tôi cứ vẫn cười cười như thế
suốt ba năm trên bàn thờ!”
(Trích “Nụ Cười Của Mẹ” – 2014)
Tôi cho những phong thái kể trên của Đỗ Nghê là phong thái của một hành giả đã khu trừ được cái tâm nhiễu loạn, nguồn gốc của cái “tôi,” để thong dong dạo chơi giữa vườn đời…
Tôi thấy trong Đỗ Nghê không chỉ có một thi sĩ mà, thi sĩ ấy, còn song sinh với một thiền gia nữa. Như thiên/địa, nhật/nguyệt, tuy hai mà, thực ra cũng chỉ là một thôi. (Du Tử Lê)
————
Chú thích:
(3), (4) Nguồn dutule.com
(5)Tôi nói Đỗ Nghê thơ ngắn Đỗ Nghê…“xu hướng” Haiku – Thể thơ ngắn của Nhật Bản chỉ có 17 âm tiết trong ba câu; vì, thơ ngắn của họ Đỗ không nhất thiết theo đúng quy luật này. Nhưng “thần thái” những bài thơ ngắn của ông, thì rất gần với tinh thần của thơ Haiku vậy.
Du Tử Lê viết về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc)
Ghi chú: Đang loay hoay “về thu xếp lại…” thì gặp bài viết này của nhà thơ Du Tử Lê trên dutule.com về tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc). Bèn post lại đây để sẻ chia cùng bè bạn thân quen.
Cảm ơn nhà thơ Du Tử Lê.
ĐHN.
…………………………………………………………………
Đỗ Hồng Ngọc, bất hạnh với thi ca? (Kỳ 01)
21 Tháng Mười Một 2017
Du Tử Lê
Nhiều độc giả (kể cả một số người có làm thơ), nói với tôi rằng, biết làm thơ và làm được thơ là một hạnh phúc! Tôi nghĩ khác.
Với tôi, trừ những người đến với thi ca như một thời thượng, làm dáng, hoặc, một cuộc du ngoạn ngắn hạn thì; làm thơ là một lao động (tinh thần,) vất vả. Một thao tác trí tuệ ngặt nghèo. Thường khi bất lực. Đuối sức.
Với tôi, đó là một cuộc chạy đua việt dã không đích đến. Không bạn đồng hành. Khi đối diện với bài thơ thì, chỉ có mình y, cùng lắm là… chiếc bóng.
Ngoài ra, tôi chưa thấy một cá nhân bình thường, không bị một khuyết tật tinh thần nào, lại ở được bền lâu, với thi ca. Tôi cũng chưa thấy một cá nhân thỏa mãn mọi lãnh vực trong đời thường, có thể tạo được một hôn phối tốt đẹp với thi ca. Tại sao?
Xin thưa, vì căn bản, thi ca là đỉnh ngọn chênh vênh, nhọn, sắc nhất của định mệnh bất toàn.
Vì căn bản, thi ca là cõi trú đầu tiên và, cuối cùng của những tâm hồn bất an.
Những sinh phần liu điu, cần sự cân bằng sinh-thái-tinh-thần…
Hiểu như thế, với tôi, nhà thơ trước nhất, là người thợ đào bới để làm mới những con chữ đã cũ, hoặc hình ảnh, chân dung những mảnh đời đã mất. Khi tìm được những hầm mỏ chữ, nghĩa, những “trầm tích” gặp được ở độ sâu đủ thì, tôi cho, đó là lúc nhà thơ sức thả mình, rớt xuống. Y hoàn tất cuộc đua việt-dã-trí-tuệ (một mình.) Y hoàn tất trận đánh sinh, tử (dài lâu), với địch thủ trên cơ: Định mệnh. Y san bằng mọi bất toàn. Y cân bằng sinh-thái-thân-tâm. Nhưng, đau đớn thay, đó cũng là lúc, y thấy tận cùng vẫn là thất bại, hiểu theo nghĩa nào đấy – – Để rồi y lại khởi sự một lên đường khác (?)
Trên hành trình chữ nghĩa, ở đôi ba giao lộ, tôi may mắn được gặp một số bằng hữu. Những thi sĩ. Trong đó, có Đỗ Hồng Ngọc. Thi sĩ.
Tôi không chủ quan nghĩ rằng, Đỗ Hồng Ngọc, sẽ sẵn sàng chia sẻ những quan điểm của tôi về thi ca và, đời sống: Chữ nghĩa và sự bất toàn. Khuyết tật và định mệnh.
Nhưng, là người dõi theo hành trình văn chương của Đỗ Hồng Ngọc, trên dưới sáu mươi năm qua – – Từ những bài thơ đầu đời, tới những bài thơ mới nhất trong thi phẩm “Thơ Ngắn / Đỗ Nghê” (của năm 2017), tôi nghĩ, Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, thi sĩ, không chỉ muốn hoàn tất cuộc đua việt-dã-trí-tuệ (một mình). Ông cũng không chỉ muốn hoàn tất trận đánh sinh, tử (dài lâu,) với địch thủ trên cơ, định mệnh. Mà, ông còn muốn trả ơn người, tạ ơn đời bằng chính những lao tác tinh thần, song song với những lao động đời thường, với tư cách một bác sĩ, của ông nữa.
Ở quá xa, tôi không thể tìm đến ông (như ngày nào), để ngả mũ chào ông: Một thi sĩ. Tôi viết xuống, những dòng chữ này, như một lời xin lỗi, thi sĩ.
Hôm nay, giữa thập niên 2010s của một thiên niên kỷ khác, tôi lại thấy tôi sẽ rất không phải với họ Đỗ, nếu không sớm nói với Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc rằng, cá nhân tôi, cũng rất biết ơn ông với những trang văn xuôi đẹp như thơ, ông gửi cho người, cho đời. Thí dụ “Gió heo may đã về”. Thí dụ “Già ơi…Chào bạn”. Thí dụ “Nghĩ từ trái tim”. Thí dụ “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” cùng nhiều nữa… và, mới đây: “Ghi chép lang thang”. (*)
Tôi thích lắm tựa đề của tác phẩm của họ Đỗ. Ông gọi đó là những “Ghi chép lang thang”, đúng nghĩa… lang thang – – Nơi trang 287 và 288 của tác phẩm này, khi phải trả lời câu hỏi của độc giả Lê Uyển Văn, tác giả giải thích, ghi chép lang thang, thực ra là những ghi chép không đầu không đuôi, kiểu “cà kê dê ngỗng” trong lúc lang thang nơi này hay nơi khác. Ông chợt nghĩ, chợt nghe, chợt nhớ… một điều gì đó có khi chỉ là mùi khoai nướng, có khi chỉ là mùi dĩa bánh căn, mùi cá khô đuối xúc hột vịt…, thậm chí mùi phân trâu bò trên đường làng cũ, nhưng cũng có khi là một câu nói đanh thép của nhà vua trong bảo tàng viện với hàng trăm chiếc… thuyền thúng giăng ngang bãi biển La-Gi (1) một ngày lộng gió…
Cũng trong 2 trang sách vừa kể, với bản chất khiêm cung, luôn chọn vị trí cách xa ánh đèn sân khấu tiền trường, dấu mặt trước những lời khen dù chân thật của đám đông, Hồng Ngọc đã viết thêm:
Tác phẩm “Ghi chép lang thang” của ông, không phải là chuyện ‘văn chương chi sự’ mà, chỉ là những ghi chép riêng tư cho đừng quên với người tuổi tác.
Thế rồi thế giới bỗng nhiên phẳng, người người trong nháy mắt có thể tâm tình trao đổi cùng nhau, bèn cùng mò mẫm mà “tung” lên cho bạn bè gần xa khắng khít nhau hơn. Ghi chép lang thang như vậy cũng chỉ là những cảm xúc bất chợt, không tính toán, không… hư cấu. Mà thực ra ‘ghi chép’ cũng chẳng phải là “ghi chép”… Ông nói:
“… Có khi viết lách lăng nhăng dòm không giống bài thơ mà không biết có phải thơ không, hoặc có khi ngoằn ngoèo như một phác thảo… mà không biết phải họa không”… (2)
Sau này, được đọc nhiều bài biết của bằng hữu về cõi giới văn chương Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, tôi thấy dường như quan điểm của tôi về văn chương của Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, có nhiều phần nghịch với quan điểm của nhiều tác giả khác.
Thí dụ nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, khi viết về thế giới thi ca Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, trong bài tựa đề “Khói trời phương đông”, đã ghi nhận rằng, Với hơn 30 tác phẩm đã xuất bản từ năm 1967 đến nay, từ những bài tùy bút cho đến thơ, họ Đỗ luôn trân trọng với chữ nghĩa. Ông không hề đùa cợt với chữ nghĩa, “lên gân” cho mọi sự vật… Ông cẩn thận quan sát những hiện tượng quanh mình, trong chính cuộc đời mình y như người thầy thuốc chẩn đoán căn bệnh cho bệnh nhân. Bởi vì căn bản ông là một thầy thuốc yêu nghề, có lương tâm.
Vẫn theo nhà văn Nguyễn Lệ Uyên thì, với hơn 30 tác phẩm đã xuất bản từ năm 1967 đến nay, gồm nhiều thể loại: Thơ, tùy bút, tạp văn, y học và cả Phật học… không biết nên xếp Đỗ Hồng Ngọc vào “hàng ghế” nào cho thật chuẩn. Nhà thơ, thầy thuốc, nhà nghiên cứu, nhà văn? Đối với họ Nguyễn, vị trí nào cũng chính xác. Bởi những gì Đỗ Hồng Ngọc viết, đã xuất bản và đến tay độc giả đều tròn đầy, khiến họ thích thú đến bất ngờ. Vì ngoài cốt cách văn chương, những suy nghĩ của họ Đỗ về các vấn đề xã hội, đời sống, không xa vời; nó gần gũi, quanh quẩn, ẩn núp đâu đó quanh ta mà ta chưa thể nhìn thấy; chỉ đợi khi ông viết lên, đọc lại, ta mới chợt thấy ra…Nó vẫn có đấy nhưng ta không nhìn thấy, không nghĩ ra được nhỉ?
Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên nhấn mạnh rằng, những điều bình thường cũ rích, trong đời sống, nhưng qua ngòi bút của Đỗ Hồng Ngọc, chúng được “hóa giải, đã giúp ta từ bỏ thói quen nhìn, nghĩ đời sống quanh ta, một cách hạn hẹp… bất cập – – Để từ đó, ta có được cái nhìn cởi mở, thênh thang, không thiên kiến…” Nđd)
Là một người sáng tác văn chương, họ Đỗ được nhà văn tên tuổi Nguyễn Lệ Uyên ngợi ca là đã “hóa giải” phần nào chướng ngại tinh thần của người đọc thì, thành quả đó, chẳng phải là một “hạnh phúc” đáng kể hay sao?
(Còn tiếp một kỳ)
________
Chú thích:
(1) Bãi biển La-Gi, thuộc tỉnh Phan Thiết (Bình Thuận), một thắng cảnh nổi tiếng ở miền Trung, nguyên quán của họ Đỗ. Được ông nhắc tới rất nhiều lần trong thơ. (Theo Wikipdia-Mở)
(2) Bài viết của DTL, tựa đề “Đỗ Hồng Ngọc, như một lời xin lỗi” – – đã đăng trên Web Site, dutule.com tháng 1 – 2015.
Đỗ Hồng Ngọc's Blog
- Đỗ Hồng Ngọc's profile
- 12 followers

