Đỗ Hồng Ngọc's Blog, page 50

August 31, 2019

Nguyên Giác: KINH PHÁP CÚ TÂY TẠNG

 


LỜI GIỚI THIỆU


KINH PHÁP CÚ TÂY TẠNG


Nguyên Giác Phan Tấn Hải



Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali. Phổ biến nhiều thứ nhì là Kinh Pháp Cú Hán Tạng. Duy ít nghe tới là Kinh Pháp Cú Tây Tạng (Tibetan Dharmapada), còn tên khác là Udanavarga; hiện chưa có bản Việt dịch nào.


Kinh Pháp Cú Nam Truyền, từ Tạng Pali, gồm 26 phẩm, 423 bài kệ — đã nhiều bản Việt dịch, trong đó bản phổ biến nhất là của Hòa Thượng Thích Minh Châu.


Kinh Pháp Cú Bắc Truyền, còn gọi là Kinh Pháp Cú Hán Tạng, gồm 39 phẩm, 759 bài kệ. Bản do Thiền sư Nhất Hạnh dịch còn lấy tên là “Kết một tràng hoa.” Bản Việt dịch gần nhất được xuất bản năm 2019, của hai dịch giả Thích Nguyên Hùng và Thích Đồng Ngộ.


Kinh Pháp Cú Tây Tạng, thường gọi là Kinh Udanavarga, gồm 33 phẩm, 1,100 bài kệ. Bản gốc từ tiếng Sanskrit, được dịch sang tiếng Tây Tạng, và hiện nay có ba bản Anh dịch. Chưa có bản Việt dịch nào trước đây.


Bản Việt dịch này dựa vào ba bản Anh dịch sau.


– Udanavarga: A Collection of Verses from the Buddhist Canon (ấn bản 1883). Dịch giả là William Woodville Rockhill (1854-1914). Rockhill là một nhà ngoại giao Hoa Kỳ, cũng là người Mỹ đầu tiên học tiếng Tây Tạng.


— The Tibetan Dhammapada (ấn bản 1983). Dịch giả là Gareth Sparham, có Lời Giới Thiệu của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14. Sparham sinh tại Anh quốc, xuất gia và tu học khoảng 20 năm theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng tại Dharamsala, Ấn Độ.


— The Dhammapada with the Udananvarga (ấn bản 1986). Dịch giả là Raghavan Iyer (1930-1995). Iyer sinh tại Ấn Độ, tốt nghiệp Tiến sĩ năm 1962, dạy tại University of California, Santa Barbara từ 1965 cho tới khi về hưu năm 1986. Iyer từ trần ở Santa Barbara năm 1995.


Theo ngài Long Thọ (https://en.wikipedia.org/wiki/Udanavarga) sách Udanavarga (tức là Pháp Cú Tây Tạng) do các tu sĩ kết tập ngay khi Đức Phật nhập Niết Bàn.


Như thế, các Kinh Pháp Cú thuộc các nhóm kinh kết tập xưa cổ nhất, tính kể từ khi Đức Phật nhập diệt, và khi các nhóm tu sĩ đi phân tán ra các hướng khác nhau, dần dà mới có dị biệt.


Theo truyền thuyết, Kinh Pháp Cú Tây Tạng do Tôn giả Pháp Cứu (Dharmatrāta) tuyển soạn, kết tập; nhiều học giả ngờ vực rằng có thể có nhiều vị kết tập qua nhiều thời kỳ.


Bản Việt dịch này được thực hiện với nhiều đối chiếu. Khi thấy các bản Anh dịch có một số câu dị biệt, tất cả các dị biệt đó đều được dịch ra đầy đủ, không dám bỏ sót ý nào.


Nhìn chung, Pháp Cú Tây Tạng khuyến tấn nhận ra Tứ Diệu Đế, sống ly tham, trì giới, quán vô thường, biết đủ, giữ hạnh cô tịch, phòng hộ sáu căn, hành thiền, dạy tránh danh vọng, khuyên chớ coi thường những người học kém, vì vẫn có nhiều người học kém nhưng kiên tâm trì giới, sống theo chánh pháp đã đắc được Tam Minh. Và rất nhiều lời dạy quan trọng khác.


Đặc biệt, tư tưởng Thiền Tông, hay Thiền Đốn Ngộ (tại Việt Nam là Thiền Trúc Lâm) lặp đi lặp lại ở nhiều bài kệ. Nơi đó, tâm sẽ tức khắc không thấy tham, sân, si là khi:


— Tâm vô sở trụ, không dính mắc, không chấp thủ, dù là dính vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.


— Tâm buông bỏ những gì ở quá khứ, chớ mơ tưởng gì nơi tương lai, và không tơ vương gì với hiện tại.


— Tâm để cái được thấy nghe hay biết chỉ là cái được thấy nghe hay biết, và sống với các pháp như thị.


— Tâm đón nhận vô thường trôi chảy, nơi đó là rỗng rang, không lời, không gì để thêm, không gì để bớt.


— Tâm xa lìa cả bờ này và bờ kia, xa lìa cả thiện và ác.


— Tâm lắng nghe cái tịch lặng, nơi ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt – nơi lời nói dứt bặt, tâm bất động như núi.


— Tâm thấy tất cả các pháp đều là như huyễn, đều là rỗng rang không tự tánh.


Nơi các lời đó, khi tâm ly tham sân si, là tức khắc Niết bàn.


Tất cả những dòng chữ nơi đây được trân trọng viết để cúng dường Tam Bảo và phụng sự chúng sinh. Tất cả các bất toàn, người biên dịch xin chân thành sám hối.


(PTH)


(2019)

1 like ·   •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on August 31, 2019 18:33

LÕM BÕM HỌC PHẬT

Lõm Bõm Học Phật

Đỗ Hồng Ngọc


Kinh sách khuyên học Phật dù một câu một chữ cũng… quý!

Lục tổ Huệ Năng lúc còn gánh cũi trên rừng chỉ nghe người ta tụng câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà hoát nhiên đại ngộ. Lại nhớ chuyện một thiền sư cho đệ tử mỗi một chữ “Vô” để làm “thoại đầu” mà thiền tập…

Các bậc tôn túc tự xưa đã đúc kết những câu những chữ chẳng đáng cho ta ngẫm ngợi đó sao?

Chẳng hạn “trà Tào Khê”, “cơm Hương Tích”, “thuyền Bát Nhã”, “ trăng Lăng Già” !


 


Trà Tào Khê


Huệ Năng từ phương Nam lặn lội đến Huỳnh Mai bái Ngũ tổ Hoàng Nhẫn. Tổ hỏi: “Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật chi ?” Huệ Năng đáp: “Đệ tử là dân Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, không cầu gì khác !” Tổ bảo: “Ông người Lãnh Nam quê mùa, ít chữ, làm sao kham làm Phật ?” Huệ Năng đáp: “Người có Bắc Nam chớ Phật tánh đâu có Nam Bắc. Kẻ quê mùa này cùng với Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác!” Hoàng Nhẫn giật mình. Cho xuống bếp… bửa củi, nấu cơm, giã gạo!


Không lâu sau đó, Ngũ Tổ gọi riêng truyền dạy cho, rồi trao y bát, lẽn đưa Huệ Năng xuống thuyền trốn về phương Nam xa xôi nơi có dòng suối mát Tào Khê tu tập. Huệ Năng trở thành Lục Tổ từ đó, ngày ngày uống ngụm trà Tào Khê, bắt đầu truyền thụ dòng Thiền “đốn ngộ”. Tâm truyền tâm. Bất lập văn tự. Kiến tánh thành Phật. Lấy Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc.


Huệ Năng dạy học trò nghiêm khắc. Đệ tử từ xa tìm đến tham vấn, xin ấn chứng mà chưa tỏ ngộ, chưa thấy “bổn lai vô nhất vật”, chưa nhận ra “Thức tự tâm chúng sanh/ Kiến tự tâm Phật tánh”, còn loay hoay dính mắc mãi những đâu đâu thì thường bị quở phạt, trách mắng, cảnh tỉnh.


Một hôm có người học trò Vĩnh Gia Huyền Giác đến Tào Khê. Huyền Giác xuất gia từ nhỏ, tinh thâm Thiên Thai tông, nhờ xem Duy Ma Cật Sở Thuyết mà tâm địa bừng ngộ.

Gặp Huệ Năng, ông đi quanh ba vòng rồi chống tích trượng đứng yên.

Huệ Năng trách :

– Phàm làm Sa môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Đại đức từ đâu đến mà lớn lối ngạo mạn vậy?

Huyền Giác trả lời: Sinh tử sự đại/ Vô thường tấn tốc (sinh tử việc lớn, vô thường mau chóng, lễ nghĩa làm chi!).

Huệ Năng đáp :

Sao không nhận cái lý (thể) “Vô sinh” và thấu rõ (liễu) cái nghĩa “không chóng”.

Huyền Giác đáp: “Thể” tức vô sinh, “liễu” vốn không chóng.

Huệ Năng khen: Đúng vậy! Đúng vậy!

Thế rồi Huệ Năng cùng Huyền Giác đối đáp, càng lúc càng sôi nổi.

Đoạn, Huyền Giác xin kiếu về, Huệ Năng hỏi.

Về chóng thế sao?

Rồi, mời Huyền Giác ở lại Tào Khê với mình một đêm để cùng uống trà… mà đàm đạo!

Về sau, Huyền Giác viết Chứng đạo ca:

Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân,

Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân ?

Vô minh thực tánh tức Phật tánh,

Ảo hoá không thân tức Pháp thân.

(…)


 


Cơm Hương Tích


Hôm đó Duy Ma Cật tiếp Bảo Tích và năm trăm vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà viên ngoại- là những Bồ-tát tại gia tương lai- tại cái thất trống trơn của ông ở thành Tỳ-da-ly.

Giữa lúc mọi người đang sôi nổi hào hứng bàn những chuyện cao xa như hữu lậu với vô lậu, hữu vi và vô vi, sinh tử và niết bàn… thì Xá-lợi-phất, vị đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật, lên tiếng đưa mọi người về “mặt đất”: “Sắp đến giờ ăn rồi. Các vị Bồ Tát này sẽ ăn thức gì đây?”.

Duy-ma-cật: “ Xin đợi cho giây lát, tôi sẽ khiến quý vị được thứ thức ăn chưa từng có”.

Thức ăn chưa từng có ư? Với các vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà trưởng giả này thì cao lương mỹ vị có gì là lạ, tổ yến hồng sâm, nem công chả phượng có gì là lạ.

Họ háo hức chờ đợi Duy-ma-cật mang đến thứ thức ăn “chưa từng có”!


Thì ra… Duy-ma-cật mang đến một mùi hương! Một mùi hương thơm. Thứ “thức ăn” xin được từ cõi Chúng Hương của Phật Hương Tích! Đó là một thứ “thức ăn” chưa từng có.

Duy-ma-cật liền nhập vào Tam-muội, dùng sức thần thông khiến cho đại chúng nhìn thấy về hướng trên, cách đây nhiều cõi Phật liên tiếp nhau như số cát của bốn mươi hai con sông Hằng, có một cõi nước tên là Chúng Hương, hiện có đức Phật hiệu là Hương Tích ngự tại đó. Nước ấy có mùi thơm bậc nhất đối với các mùi thơm của người ta và chư thiên ở các thế giới chư Phật mười phương. Khắp cõi ấy, mùi thơm tạo ra lầu gác. Người ta đi trên đất bằng mùi thơm. Các cảnh hoa viên và vườn tược đều bằng mùi thơm. Từ nơi thức ăn, mùi thơm bay tỏa ra khắp vô lượng thế giới mười phương.

Duy-ma-cật chỉ xin “chút xíu thức ăn thừa” của Phật Hương Tích để đãi các vương tôn công tử tại Tỳ-da-ly hôm ấy. Chỉ một chút xíu thức ăn thừa thôi nhé. Một chút thức ăn thừa thôi cũng đã là quá đủ, bởi thứ « thức ăn chưa từng có” đó là một thứ « vô tận hương » đến từ bên trong của người có giới đức. Chính là hương giới đức. Một thứ hương có thể “bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió”!


Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. “Hương” thơm đó phải được “Tích” chứa từ từ mới đầy dần lên được, mới sung mãn, mới tràn trề… mới “ngát hương”!


Nhờ giới đức, cõi Chúng hương đó của Phật Hương Tích chẳng cần phải thuyết pháp bằng văn tự mà chỉ dùng các mùi hương là đủ. Mọi chúng sanh nhờ hương giới đức mà đắc nhập luật hạnh. Bồ-tát ở cõi đó mỗi vị đều ngồi nơi cội cây thơm, nghe mùi thơm vi diệu kia mà thành tựu hết thảy các phép Tam-muội Đức tạng. Chẳng cần phải nói năng cho phiền hà, gây tranh cãi, hý luận. Bởi Giới là gốc. Có Giới thì có Định, có Huệ đó vậy.


 


Thuyền Bát Nhã


“Bát Nhã” lúc nào cũng phải là “thuyền”! Nhưng có lúc là “bè” cũng được… Có lần Phật bảo các đệ tử: Qua sông rồi còn vát bè theo chi cho nặng!

Quán Tự tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã ba-la-mật-đa (Prajna Paramita) thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.


Bát Nhã luôn là Bát Nhã “Ba-la-mật”. Prajna paramita. Para: bờ kia, bên kia. Mita: đến. Paramita: là đến bờ kia, là “đáo bỉ ngạn”. Từ bờ mê qua bến giác.

Qua bờ kia thì “Độ nhất thiết khổ ách” được ư? Được. Với điều kiện hành thâm Bát Nhã. Thấy rõ năm uẩn đều Không. Chẳng những vậy, khi đã thấy không tướng, thực tướng vô tướng, đã sống với Bát Nhã, sống trong Bát Nhã thì… cái núi Tu Di to đùng kia có thể nhét vào hột cải, nước bốn biển mênh mông nọ có thể cho vào một lỗ chân lông… !

Một khi đã vô ngại thì sự vô ngại. Lý sự đã vô ngại thì sự sự vô ngại…


Nhưng, thuyền có đi thì có về, có qua thì có lại. Các vị Bồ-tát theo nguyện vì người mà nấn ná cõi Ta-bà, qua qua lại lại giữa đôi bờ. Thuyền thong dong qua lại mà cũng chỉ quanh quẩn ở lòng ta, tâm ta.


Con thuyền vẫn đi có khi trên dòng nước xuôi, có khi trên dòng nước ngược. Phải chèo phải chống. Không dễ mà lõng buông tay lái. Bố thí. Trì giới. Nhẫn nhục. Tinh tấn. Thiền định. Trí huệ.


Bát Nhã, Prajna, là cái Biết trước cái Biết. Pra là trước, Jna là biết. Cái biết trước cái biết là cái biết hiện tiền, biết “như thực”, không qua suy luận, phê phán, biện biệt. Cho nên nó đã là Trí chớ không còn là Thức nữa. Hay nói cách khác Thức đã chuyển thành Trí.


 


Trăng Lăng Già


Chưa có khi nào Phật cười to như thế, cười sảng khoái, “cười hùng mạnh như vua sư tử…” giữa đêm trăng Lăng Già cùng với chúa đảo Ravana và thần dân của ông, với sự có mặt của hàng ngàn Bồ tát.

Ấy bởi Phật đã thuyết giảng chân lý giúp cho mọi người chuyển hóa tâm thức, vượt ngoài tri thức lý luận, vượt cả tam-ma-địa thông thường để mà an trú trong Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, cảnh giới cao nhất, nhập vào Như lai tạng, bằng tự chứng tự nội…


Giữa đỉnh núi ở trên đảo Lăng Già khi nhìn những ánh trăng bập bềnh trên sóng nước, vỡ tan, vỡ tan theo từng con sóng, Phật đã cất tiếng cười to. Ánh trăng vỡ tan và gom tụ lại. Rồi vỡ tan, rồi gom tụ lại. Hoa đốm hư không. Dấu chân chim ngang trời. Bức tranh vân cẩu. Nó vậy đó. Thế giới muôn hồng ngàn tía cũng chỉ do tâm thức tạo ra. Nó như huyễn, nó như mộng, như bào ảnh, như sương mai, như ánh chớp… Bên dưới đó, là Như Lai tạng, là A-lai-da vẫn im ả, “như như bất động”. Chỉ có cái thức tâm phân biệt của ta quậy phá chính ta. Cái tâm thanh tịnh bổn nhiên kia vẫn im ắng. Không lay động. Vẫn bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.


Vì thức khởi mà sự sinh. Thế giới chỉ là tâm thức của chính mình. Chúng sanh là ảo vật do ảo thuật gia là ta vẽ bày để rồi tự mình phan duyên, dính mắc, khổ đau…


Bồ tát thấy biết như vậy, thấy biết nhứt thiết duy tâm tạo, thấy chúng sanh là ảo vật do chính mình tạo ra rồi thức tâm phân biệt, chấp trước mà khổ đau bèn nói thẳng cho mọi người cùng biết. Nói thẳng ra như thế mới là “lòng từ chân thật”, không giấu giếm, che đậy, không hù dọa, gạt gẫm nhau chi! Vì như huyễn, mà có lòng Từ. “Trí chẳng đắc có không/ Mà hưng tâm đại bi”.


Tâm bất sinh thì vô sinh. Vô sinh thì vô sự. Dứt mọi phân biệt của thức tâm thì không bị quậy phá nữa. Ở đó là Như Lai tạng. Nhất thiết chủng trí. Đại viện cảnh trí.

Thấy biết Như Lai, thì sống với Như Lai, sống trong Như Lai, sống cùng Như lai vậy.


(ĐHN)

(6.2019)

………………………..


Ghi chú: các hình trong bài này từ Internet. 

1 like ·   •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on August 31, 2019 02:31

August 21, 2019

Hồ Đắc Đằng: VÔ KỴ HỌC VÕ

 


VÔ KỴ HỌC VÕ


Ghi chú: Bác sĩ Hồ Đắc Đằng là người bạn cùng khóa với tôi tại Y khoa Đại học đường Saigon (1962-1969) vừa có bài viết rất thú vị về chuyện “Vô Kỵ Học Võ” mà anh có vài lời “phi lộ” như sau: “Tự nhiên, nổi hứng, viết cho tất cả các bạn cùng lớp của tụi mình. Tôi có một câu chuyện kể các bạn xem cho vui. Nửa bịa đặt, nửa thật. Tên thì bịa đặt, nơi chốn thì thật, phương cách dạy, quyền cước thì nửa thật, nửa tượng trưng (symbolic), kết quả thì thật…”.


Xin chia sẻ cùng các bạn.


Cảm ơn Hồ Đắc Đằng.


ĐHN


……………………………………………………………………..


VÔ KỴ HỌC VÕ


 


Vô Kỵ


Vô Kỵ là một thằng bé 11 tuổi, ở Tích Lan (Srilanca), người thì không có gì mạnh mẽ, nhanh nhẹn. Nó thì hiền lành nhưng tự nhiên lại nổi hứng muốn học đánh võ. Nó tìm được một ông thầy dạy võ già, nổi tiếng là võ nghệ cao cường, kiến thức uyên bác, đạo hạnh nghiêm túc. Bố mẹ nó cũng không vui lắm vì muốn nó trở thành một người thường, làm ăn lương thiện, thành công và cưới vợ, đẻ con như tất cả mọi người. Bố nó giận nó, nói dỗi:


–          Mầy có muốn học võ thì mầy đi ở luôn với ông thầy dạy võ đó đi. Đừng có về nhà nữa.


Thế là nó làm thật. Nó ở luôn với ông thầy võ đó. Thế mới đổ nợ cho bố nó, bị vợ ổng (mẹ nó) mắng cho một trận:


–          Tại ông đó, nó mới bỏ nhà đi như vậy. Phải ông để tôi dùng lời nhỏ nhẹ, tôi đã có thể giữ nó lại nhà làm người tốt như ông tính.


Bài học: Muốn cái gì thì cứ thong thả, từ từ; thẳng thừng là nó làm thật đấy.


Dạy ăn


Nó đòi học võ, ông thầy chẳng chịu dạy gì cả:


–          Vô Kỵ, trước khi học võ, phải học ăn trước. Thân thể gầy ốm thế này thì đấm với đá cái gì. Phải nuôi cho nó lớn, mạnh lên. Con thích ăn cái gì?


–          Thưa sư phụ, con thích ăn balanced diet. Mấy người thầy thuốc dặn ăn balanced diet, tinh bột, thịt mỡ, con biết hết. Nhưng con nhất định ăn chay tại con thương thú vật. Con không muốn bất cứ một con gì phải  bi chết để con được sống và học võ.


–          Nầy Vô Kỵ, nếu con nhất định như vậy thì sư phụ sẽ không còn ai để dạy nữa.


–          Sao vậy sư phụ? Có biết bao protein thực vật mà mình đâu có cần giết con gì đâu?


–          Vô ích, Vô Kỵ ạ. Con có biết một bát cơm con ăn là do biết bao triệu sâu bọ đã bị giết để con còn có lúa trên đồng không? Nếu không có mấy cái xịt thuốc rầy, thì tụi nó đã ăn hết lúa, hết hoa quả của con. Con sống được là nhờ tụi nó chết. Con hãy mang ơn tụi nó khi con nhai cơm, ăn táo trong miệng con. Đó là đời sống đó con. Xác thân con sống được như vậy là do công ơn của muôn vạn sanh linh, từ người đến thú. Đó là chưa kể đến những vật vô tri giác như nước, không khí và ánh sáng. Kết luận? Thầy sẽ cho con ăn cái gì thầy có. Lòng từ bi, thầy cũng có như con. Thầy dạy con ăn, không phải cái gì con nên ăn, mà thầy dạy con ăn trong tâm thức nào: tâm thức mang ơn.


–          Con xin nhận lãnh những lời giáo hóa nầy. Vô Kỵ cúi đầu. Hắn hiểu.


Dạy đi


Dạy ăn rồi mà vẫn chưa xong với ông thầy dạy võ nầy. Vô Kỵ nóng nảy muốn học võ mà cả năm qua, chẳng thấy thầy dạy động tác nào trước, bước đá nào sau. Nội cái đi tới đi lui trong sân mà thầy hắn cứ phải nhắc đi chậm lại. Trời đất, đi học đánh võ mà cái gì cũng phải chậm. Hắn cứ muốn học sao cho nhảy cao, đá mạnh. Vô ích, ông thầy dạy:


–          Vô Kỵ, nghe cho kỹ, cái võ thuật thầy dạy không nằm trong cái vận tốc và lượng (mass) mà là nội công của cái tĩnh lặng tuyệt đối. Nhớ 3 điều nầy:


. Một cái tâm nhanh là tâm bệnh


. Một cái tâm chậm là tâm mạnh


. Một cái tâm yên lặng là tâm thánh thần


(A mind which is fast is sick


A mind which is slow is sane


A mind which is still is divine)


Dạy thở


Ba năm đã qua mà Vô Kỵ vẫn chưa được dạy một miếng võ nào. Hắn ăn cái gì thầy hắn cho. Thật ra mấy người trong làng hắn cho thầy hắn rồi thầy trò ăn với nhau. Khi ăn thì không nói. Chỉ biết ăn là ăn cái gì, nghe mùi vị trong mũi, trên lưỡi của nó và đầy lòng biết ơn.


–          Thở mà cần gì phải dạy, thưa thầy. Con biết thở từ lúc mới sanh.


–          Con nuốt thức ăn xuống dạ dày không có nghĩa là con biết ăn. Ăn trong im lặng, ăn trong lòng mang ơn mới gọi là biết ăn. Đi cũng vậy, đặt chân xuống đất và bước đi trong cả đường dài không có nghĩa là con biết đi. Con đi từng bước chậm rãi, chú ý, quan tâm tới cái mầu nhiệm của mỗi cái ngã mà con tránh được của mỗi bước. Đó mới là con biết đi đấy.


Còn thở cũng vậy. Mũi con thở mà tâm con nóng lòng học võ để con có võ nghệ cao cường là con chưa biết thở. Con hãy buông bỏ hết tất cả ý tưởng bay nhảy, suy luận và chỉ đắm mình trong một cái thở ra, một cái thở vô nhịp nhàng, không cố gắng, không ham muốn. Một cái thở bao dung, hòa đồng, không ranh giới, trao đổi dưỡng khí với trọn thế giới quanh con. Không còn hơi thở nào là của con hay là của bạn con xung quanh. Hơi thở dịu dàng, nhịp nhàng, không ranh giới, vô tận. Đó mới thật là biết thở. Dĩ nhiên Vô Kỵ con, con không thể nào biết thở kiểu này 24/7. Mỗi ngày 15 đến 45 phút là đủ rồi. Khi nào con cảm thấy mấy cái hơi thở vô, thở ra của con là “đẹp đẽ” thì con khá lắm đó. Nhớ: The beautiful Breath .


–          Thầy có thấy hơi thở đẹp không? Vô Kỵ hỏi.


Ông thầy chỉ cười, không trả lời. Vô Kỵ cũng không có hỏi gạn.


Dạy võ


8 năm qua. Vô Kỵ bây giờ 19 tuổi. Thân thể tráng kiện, mắt sáng, tai thính, bước đi nhẹ nhàng, mỗi một bước chân xuống vững chãi như một cái máy cầy John Deere , nhấc lên nhẹ nhàng như một tai hoa sen. Miệng hắn hiền hòa, điềm đạm, hay cười. Hắn vui lắm.


–          Nầy Vô Kỵ, bao nhiêu kiến thức về võ thuật, tấn thối, ngửa đầu, cúi đầu con đều đã nằm lòng. Bây giờ thầy chỉ nhắc lại con có hai động tác là con phải quán suốt tận tường. Một là xuống tấn; hai là Tango.


Xuống tấn


–          Như kiểu phòng thủ. Chân trái gập nửa gối, phía trước. Tay trái thẳng, hạ thấp một chút. Tay phải xòe, hướng ra trước phía đối thủ, mấy ngón tay khít lại, cả ngón cái. Khuỷu tay co lại một chút. Đấy đấy, được đấy. Sư phụ của hắn vừa dạy vừa ra bộ luôn.


–          Năm ngón tay là 5 giới (Sila). 10 ngón tay cũng được. Tư thế có khác một chút: 2 bàn tay xòe về phía đối thủ như để chặn đứng một cánh cửa đang ập xuống. Đó là 10 Commandments. Cả hai động tác có một ý nghĩa tương tự: Đừng làm mấy cái đó. Vô Kỵ, con hãy chuẩn bị chân con cho vững vì mấy cái lực tấn công con nó rất mạnh. Con đỡ nó mà không vững chân thì nó đánh con ngã đó: Lực mà 5 giới (precepts) và 10 điều răn (commandments) con phải đối phó: Đừng có làm.


Tất cả các đường quyền, đường cước đều phải dựa lên cái xuống tấn phòng thủ nầy để khỏi bị địch thủ đánh ngã.


Tango


–          Vô Kỵ, bên Âu Châu tụi nó có điệu múa, hình như của Tây Ban Nha thì phải, gọi là Tango. Trong khi múa, vũ kiểu nầy, có lúc người đàn bà như bị ngã ngửa ra đằng sau, gần như lưng đụng sàn. Thì tự nhiên một cánh tay của vũ công nam ,uyển chuyển, mềm mại nhưng mạnh khỏe vô cùng đã đợi sẵn ở đó và người phụ nữ không bao giờ bị ngã đau. Đó là Tango.


Con đánh võ cũng vậy. Đánh võ là có ngã. Thầy dạy con đường quyền, đường cước để chân tay khéo léo, mạnh mẽ, không phải để làm cho người ta đau hay ngã xuống.


–          Thưa thầy, nhưng nếu đối thủ không ngã, không đau thì làm sao con thắng được?


–          Thắng? Thắng là cái gì? Con sao tối dạ thế? Vô Kỵ. Con nói con muốn học võ, thầy dạy võ. Thầy có dạy cho con thắng ai đâu? Con đủ sức thắng được, đỡ được cánh cửa nặng của 5 giới, của 10 điều răn, con còn sức đâu để thắng ai nữa. Con chẳng còn mong muốn gì hết, huống là muốn thắng.


Quyền Tango là con đỡ cho địch thủ khỏi đau đó.


Cuộc đấu thực sự


Bây giờ, Vô Kỵ đã 25, thân thể vạm vỡ, bước đi uyển chuyển, dịu dàng, nhịp nhàng, quyền cước thuộc lòng, tâm tính bao dung, trong sáng nhưng vẫn còn một cái muốn: muốn thắng.


Đối thủ có vẻ già giặn, lịch thiệp, có vẻ hơi kiêu ngạo một chút vì hắn học trường rất nổi tiếng trong vùng. Nhiều tiền lắm mới vô học được trường nầy, toàn là người thành công trong đời tranh nhau đưa con đến học, đôi khi phải hối lộ mấy người xét đơn nhập học. Trường võ của Vô Kỵ thì nghèo. Từ bi, rộng lượng nhưng nghèo và không danh tiếng bằng.


Hiệp nhất


Vô Kỵ thua te tua, ngã mấy cái đau điếng. Địch thủ mạnh lắm, Vô Kỵ xin time out vô động đá vấn kế sư phụ. Sư phụ ngồi yên, theo dõi từng quyền, từng cước. Sư phụ dạy: Con đánh rất đúng quy luật thể thức nhưng còn nhớ bài nhiều quá, theo quy luật, giáo điều quá. Quên bớt đi.


Hiệp hai


Vô Kỵ ngồi nghỉ mệt một chút, xem xét mình còn nhớ bài được bao nhiêu. Quên được 75% bài học của thầy. Thầy cho ra đánh tiếp hiệp hai. “Quái lạ, thằng này đánh khá hẳn lên” đối thủ ngạc nhiên, vất vả hơn nhiều nhưng rốt cuộc cũng đánh ngã được Vô Kỵ. Lần nầy ngã nhưng không có đau bằng lần đầu. Xin time out, vô vấn kế sư phụ lại.


Hiệp ba


–          Con còn nhớ bài nhiều quá. Nhớ 25% là quá nhiều. Con phải biết là địch thủ nầy nó rất giỏi về đoán trước động tác của con. Nó thấy được con ở đâu, con là ai, nó tấn công con ở đó. Con phải quên hết bài bản, quên con là ai, con không còn là Vô Kỵ nữa thì con sẽ thấy. Quên hết đi. Buông bỏ hết đi. Con không còn tự nhận định (self-identify) với một đơn vị nào nữa. Không còn là Vô Kỵ nữa. Nghe chưa?


Vô Kỵ làm thinh, tư tưởng trống rỗng, tâm thức trong sáng, lắng đọng, hay biết tất cả.


–          Con xin lãnh giáo.


Hắn chậm rãi trở ra, nhìn thẳng vào địch thủ, nở một nụ cười hiền từ, bao dung, không sợ thua mà cũng không muốn thắng nữa. Hắn múa may không theo bài bản gì cả. Chân hắn như đi trên mây, tay hắn múa may như Tango. Hắn khi thì ở trước địch thủ, khi thì ở sau, ở trên, ở dưới. Địch thủ không thấy một Vô Kỵ mà vố số Vô Kỵ, ở khắp nơi, như gió thổi, như mây bay. Động mà không động, không động mà động. Rốt cuộc địch thủ chịu thua không phải vì Vô Kỵ thắng mà vì địch thủ của Vô Kỵ không còn ai để mà thắng nữa.


Sư phụ cười. Hai địch thủ chậm rãi đến trước vị võ sư già cùng cúi đầu đảnh lễ. Chấm dứt một cuộc đấu võ ngoạn mục và cả hai trở thành võ sĩ tài ba, lỗi lạc mà không có ai thua ai thắng hết.


Footnote: Vô Kỵ bây giờ 62 tuổi ở Woodstock, IL., dạy thiền định thay vì dạy võ. Tôi là một học trò. Học ăn, học đi và học thở rồi. Còn học múa võ thì còn học dài dài. Không, không có Tango. Các bạn nào giỏi Tango, dancing dạy mình múa đi, múa sao cho người vũ viên của mình ít bị ngã, mà có ngã thì cũng khỏi đau.


 


Hồ Đắc Đằng


8/15/2019


 

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on August 21, 2019 08:21

August 15, 2019

Krishnamurti: CÁI  TRỐNG  RỖNG NỘI  TÂM

 


CÁI  TRỐNG  RỖNG (1) NỘI  TÂM


Krishnamurti


Dịch giả: Nguyễn Tường Bách


(Cám ơn dong phan đã gởi. Đang đợi cuốn sách dịch này của NTB).


Cô đội trên đầu một chiếc giỏ to, một tay giữ cho khỏi rơi; cái giỏ hẳn phải nặng lắm nhưng trọng lượng của nó không hề làm lệch bước cô đi. Cô giữ thăng bằng một cách tuyệt vời, cô bước đi nhẹ nhàng và có nhịp. Tay cô mang vòng phát nhẹ tiếng kêu leng keng, chân mang giày xăng – đan đã cũ. Chiếc váy sari của cô đã rách và bẩn vì đã mặc quá nhiều. Thường thì cô có nhiều bạn cùng đi, ai nấy đều đội giỏ cả, nhưng hôm nay cô chỉ một mình trên con đường gập ghềnh. Mặt trời chưa đến nỗi quá nóng và trên bầu trời xanh nhiều con chim kên kên lượn những vòng rộng, cánh không hề vỗ. Dòng sông chảy yên lặng dọc bên đường. Thật là một buổi sáng rất bình an, và cô gái cô đơn với chiếc giỏ trên đầu dường như là tâm điểm của cái đẹp và ân sủng; tất cả mọi sự dường như hướng về cô và nhận cô làm một phần sự tồn tại của chính mình. Cô không phải là một đơn vị tách rời, mà là một phần của bạn và tôi, và của cây me kia. Cô không đi trước mặt tôi mà lại là tôi đang đi với chiếc giỏ trên đầu. Đây không phải là ảo giác, là cái tự nghĩ, cái mong ước và sự tự đồng hóa được bày vẽ ra – nếu có thì thật là xấu hết chỗ nói – mà là một chứng nghiệm tự nhiên và tức thì. Vài bước chân cách ly giữa chúng tôi đã biến mất; thời gian, ký ức và khoảng cách không gian, những điều do tư tưởng sinh ra, đã hoàn toàn biến mất. Chỉ còn một cô gái này chứ không có tôi đang nhìn cô. Và cũng còn một đoạn dài nữa mới đến phố chợ, chỗ mà cô sẽ bán những đồ đựng trong giỏ. Buổi tối cô sẽ về lại dọc theo con đường này, qua cầu tre nhỏ về tới làng, và sáng mai mới ra lại với chiếc giỏ đầy.


Anh rất đứng đắn, độ tuổi trung niên nhưng anh có một nụ cười vui thích và cũng còn rất khỏe mạnh. Ngồi xếp bằng trên sàn, anh nói tiếng Anh một cách ngập ngừng. Anh hơi bẽn lẽn vì đã học đại học và đậu bằng thạc sĩ nhưng đã nhiều năm nay anh không nói tiếng Anh và do đó quên đi cũng nhiều. Anh đọc một số kinh sách bằng tiếng Sanskrit, những từ Sanskrit hay được thốt ra trên môi anh. Anh cho biết tới đây để đặt vài câu hỏi về sự trống rỗng nội tâm, sự trống không của tâm. Rồi anh bắt đầu ca bằng tiếng Sanskrit và căn phòng tức khắc tràn ngập bởi một sự cộng hưởng sâu lắng, thanh tịnh và thấm đượm. Anh tiếp tục hát một hồi và thật là hân hoan khi được nghe anh hát. Khuôn mặt anh ngời sáng lên với ý nghĩa của mỗi từ trong câu hát, anh dò tìm nội dung những từ đó với một tình thương yêu. Anh không có chút giả tạo nào, anh quá đứng đắn đến nỗi không biết làm bộ tịch.


“Tôi rất vui mừng được ca những bài sloka (2) này trước mặt ông. Đối với tôi những bài ca này có ý nghĩa sâu xa và chứa đầy vẻ đẹp; tôi đã thiền định từ nhiều năm nay và những bài ca này là suối nguồn của sự hướng dẫn và sức mạnh. Tôi đã tập mình đừng dễ bị xúc động thế nhưng những bài ca Sloka này làm tôi dâng trào nước mắt. Âm hưởng của từ ngữ với nội dung phong phú của nó tràn đầy tim tôi để tôi thấy cuộc đời không còn vất vả và thống khổ nữa. Cũng như mọi người khác, tôi đã biết khổ; biết đến sinh tử và niềm đau của cuộc sống. Vợ tôi đã chết và sau đó tôi từ bỏ cuộc sống êm ấm của gia đình, và bây giờ tôi hiểu ý nghĩa của thái độ tình nguyện chấp nhận nghèo khổ. Tôi kể để cho ông hiểu thôi. Tôi không bị thất vọng, không cô đơn, hay tương tự như thế. Tâm tôi thấy vui thích trong nhiều thứ, nhưng cha tôi thường kể về các cuộc nói chuyện của ông, và một người quen khuyên tôi nên tìm gặp ông, và vì thế mà tôi đến đây”.

“Tôi muốn nghe ông nói về sự trống rỗng vô lượng”, anh nói tiếp, “tôi có cảm nhận về sự trống rỗng đó, và tôi có cảm giác đã chạm đến biên giới của nó trong những lần đi hành cước và thiền định”. Sau đó anh trích đoạn một bài ca sloka để giải thích chứng nghiệm của mình.


Krishnamurti: Cần phải nói rằng, thẩm quyền của một ai khác, dù to lớn tới mấy, cũng không chứng minh kinh nghiệm của anh là đúng hay sai. Chân lý không cần phải được chứng minh bằng hành động, nó cũng không lệ thuộc vào bất cứ thẩm quyền nào; thế nên hãy dẹp qua một bên tất cả thẩm quyền và truyền thống và hãy tự mình tìm ra chân lý cho chính mình.


“Điều đó thật là khó cho tôi vì tôi bị ngâm trong truyền thống – không phải truyền thống của thế gian mà trong giáo pháp của Gita, của Upanishad (3), vân vân… Có đúng là tôi nên bỏ cả đi hay sao? Tôi sẽ là người vô ơn bạc nghĩa không?”.


K: Trong việc này không hề có vấn đề biết ơn hay vô ơn; chúng ta đang nói về việc khám phá cái đúng hay cái sai của sự trống rỗng mà anh nói đến. Nếu anh đi theo con đường của thẩm quyền và truyền thống, những thứ đó là tri thức, thì anh chỉ chứng nghiệm những gì anh muốn chứng nghiệm, được thẩm quyền và truyền thống hổ trợ. Nó không phải là một sự phát hiện mới mẻ; thứ đó đã được biết tới, như một vật cần được anh nhận biết và chứng nghiệm. Thẩm quyền và truyền thống có thể sai lầm, chúng có thể chỉ là những ảo giác đầy tiện nghi. Muốn khám phá sự trống rỗng nọ là đích thực hay hư vọng, hay liệu nó chỉ là sự bày vẽ của tâm, tâm phải thoát khỏi mạng lưới của thẩm quyền và truyền thống.

“Liệu có lúc nào tâm thoát được khỏi mạng lưới đó không?”


K: Tâm không thể nào tự giải phóng mình, vì mỗi cố gắng tự giải phóng của nó chỉ dệt nên một mạng lưới khác mà trong đó nó lại bị ràng buộc. Sự tự tại không phải là cái đối nghịch với bất cứ cái gì, tự do không phải là tự do thoát khỏi một cái gì đó, đó không phải là tình trạng được cởi trói. Chính bản thân niềm mong ước được tự tại nuôi dưỡng cái tù ngục. Tự tại là dạng của sự tồn tại mà dạng đó không phải được sinh ra từước mong được tự tại. Khi tâm thấu hiểu được điều này và thấy cái hư vọng trong thẩm quyền lẫn truyền thống, thì cái hư vọng sẽ tự tan rã.


“Có thể tôi bị xui khiến khi đọc sách, hay khi suy tư về những điều trong sách; ngoài ra thì từ hồi còn nhỏ, tôi đã cảm nhận mơ hồ, như mơ, về một cái trống rỗng. Trong tôi luôn luôn có một sự gợi biết về nó, một cảm nhận bâng khuâng; và khi lớn lên, khi đọc các sách tôn giáo tôi cảm thấy cảm giác này còn mạnh hơn, sinh động hơn, chắc chắn hơn. Tôi cũng bắt đầu thấy những gì ông nói. Hầu như tôi hoàn toàn bị lệ thuộc vào sự miêu tả về những chứng nghiệm của người khác, như được ghi lại trong kinh sách. Tôi có thể từ bỏ sự lệ thuộc này vì thấy cần thiết phải làm, nhưng liệu tôi có thể sống lại được cái cảm nhận độc đáo, thanh tịnh nằm ngoài mọi ngôn từ được không?”.


K: Cái được làm sống lại không phải là cái sinh động, cái mới; đó chỉ là ký ức, một thứ đã chết, và anh không thể thổi sự sống vào trong cái đã chết. Sống lại và sống trong ký ức chỉ là sự nô lệ của sự tự kích thích, và một cái tâm mà lệ thuộc vào sự kích thích, dù ý thức hay không ý thức, thì chắc chắn sẽ cùn nhụt và trở thành vô cảm. Làm sống lại chỉ là kéo dài thêm sự thất vọng. Quay về quá khứ đã chết trong cơn khủng hoảng đang xảy ra là đi tìm một khuôn mẫu để sống, điều này chính là sự hủy hoại. Điều mà anh cảm nhận là tuổi thanh niên, hay chỉ mới ngày hôm qua thôi, điều đó đã qua, đã mất; nếu anh bám giữ vào quá khứ thì anh chỉ ngăn chận sự chứng nghiệm tươi tắn của cái mới mẻ.


“Như ông thấy, tôi thật sự nghiêm túc và đối với tôi có cái thôi thúc phải hiểu ngộ và hòa nhập được vào Tính Không (4) đó. Tôi cần phải làm gì?”.


K: Người ta phải xả bỏ tâm thức của những cái đã biết; tất cả tri thức mà ta đã tích lũy phải dứt bặt thì mới mong nhận được ảnh hưởng của tâm đang sống động. Tri thức luôn nói về quá khứ, nó là một quá trình của quá khứ và tâm phải thoát khỏi quá trình đó. Nhận thức là một giai đoạn của quá trình tri thức, đúng thế không?


“Thế là sao?”


K: Muốn nhận thức một vật, anh phải biết đến nó rồi hay phải kinh nghiệm về nó trước đó và những kinh nghiệm này được tích lũy thành tri thức, thành ký ức. Nhận thức xuất phát từ quá khứ. Có lẽ anh đã một lần chứng nghiệm cái trống không này; và khi đã có, anh khao khát có nữa. Cái chứng nghiệm độc đáo đó đã đến khi anh không truy tìm nó; bây giờ thì anh đang tìm và cái mà anh đang tìm không phải là Tính Không mà làsự tái diễn của một ký ức cũ. Nếu nó phải xảy ra lại lần nữa thì tất cả ký ức về nó, tất cả tri thức về nó, phải biến mất đã. Tất cả mọi sự tầm cầu phải ngưng bặt, vì sự tìm kiếm luôn luôn dựa vào mong ước được chứng nghiệm.


“Thật sự ông muốn nói là tôi không được phép tìm kiếm? Nghe thật là điều khó tin!”.


K: Động cơ của sự tìm kiếm thường đáng biết hơn bản thân sự tìm kiếm. Động cơ thâm nhập, dẫn dắt và hình thành sự tìm kiếm. Động cơ từ lòng sở cầu của anh là mong được chứng nghiệm cái chưa biết, được nhận thức ân sủng và tính chất vô hạn lượng của nó.Tâm sở cầu này sinh ra người chứng nghiệm, kẻ mong ước sự chứng nghiệm (5). Người chứng nghiệm đi tìm sự chứng nghiệm to lớn hơn, bao trùm hơn và quan trọng hơn. Khi tất cả mọi kinh nghiệm khác đã hết hấp dẫn, người chứng nghiệm nóng lòng tìm Tính Không; vì thế mà có người chứng nghiệm một bên và bên kia là vật được chứng nghiệm. Thế nên mối tranh chấp nhị nguyên đã hình thành giữa hai cái, người theo đuổi và vật bị theo đuổi.


“Tôi hiểu rất rõ điều này, vì nó chính là tình trạng hiện nay của tôi. Giờ thì tôi thấy mình đang bị ràng buộc trong một mạng lưới do mình tự tạo”.


K: Đó cũng là tình trạng của mọi kẻ tầm cầu khác thôi, không phải của riêng những ai đi tìm Thượng đế, Tính Không, vân vân… Mỗi ai có tham vọng và khao khát, kẻ đi tìm quyền lực, địa vị, tiếng tăm, mỗi ai yêu lý tưởng, mỗi ai sùng bái sự đạt đạo, mỗi ai xây dựng một vương quốc ảo tưởng – tất cả họ đều bị ràng buộc vào trong cùng một mạng lưới. Thế thì khi anh đã hiểu thấu toàn bộ ý nghĩa của sự tầm cầu, anh còn tiếp tục tìm kiếm Tính Không nữa không?


“Tôi hiểu nội dung sâu kín câu hỏi của ông và tôi cũng đã chấm dứt sự tìm kiếm”.


K: Nếu quả thật như thế thì tình trạng của tâm phi sở cầu như thế nào ?


“Tôi không biết, câu chuyện đối với tôi mới mẻ đến nỗi tôi phải cố tập trung hết sức mình và quan sát. Cho tôi vài phút trước khi tiếp tục”.


Sau khi nghỉ một lát, anh tiếp.


“Tôi nhận ra thật hết sức vi tế, thật khó khăn nếu không cho người chứng nghiệm, người quan sát hiện diện. Hầu như không thể cấm tư tưởng tạo tác ra người tư tưởng; thế nhưng hễ có người tư tưởng, có người chứng nghiệm thì rõ ràng phải có một sự chia cắt với cái được chứng nghiệm và như thế là có tranh chấp với nó. Và bây giờ ông lại hỏi, thế thì trạng thái của tâm vắng bóng tranh chấp nhị nguyên thì như thế nào?”.


K: Tranh chấp nhị nguyên hiện diện khi sự thèm muốn lấy dạng của người chứng nghiệm và theo đuổi cái phải được chứng nghiệm; vì cái phải được chứng nghiệm đó chẳng qua cũng do sự thèm muốn hình thành nên.


“Xin hãy kiên nhẫn với tôi, hãy từ từ để tôi hiểu những gì ông đang nói. Sự thèm muốn không những chỉ tạo nên người chứng nghiệm, người quan sát, mà còn sinh ra những cái phải được chứng nghiệm, vật bị quan sát. Thế nên ái dục là nguyên nhân của sự tách rời giữa người chứng nghiệm và cái được chứng nghiệm; và đó là sự phân biệt ngầm chứa tranh chấp nhị nguyên. Bây giờ ông hỏi trạng thái của tâm phi nhị nguyên, không bị ái dục lôi kéo thì sao? Nhưng làm sao trả lời câu hỏi này nếu bây giờ không có người quan sát chứng nghiệm cái vắng bóng ái dục này?”.


K: Khi anh ý thức về sự khiêm tốn của mình, không phải sự khiêm tốn chấm dứt ư? Có còn đạo đức nữa chăng khi anh cố tình thực hành đạo đức? Kiểu làm như thế chỉ tăng cường cho hoạt động vì tự ngã của mình, nó là kẻ chấm dứt đạo đức. Lúc mà anh ý thức mình đang hạnh phúc, lúc đó anh đã chấm dứt sự hạnh phúc. Tình trạng của tâm thế nào khi nó không bị ràng buộc bởi ái dục? Ý muốn tìm ra nó cũng là một phầncủa ái dục, nó sinh ra người chứng nghiệm và vật bị chứng nghiệm, không phải sao?


“Đúng vậy. Câu hỏi của ông là một cái bẫy cho tôi nhưng tôi cảm ơn ông đã nêu lên. Tôi thấy thêm tính chất vi tế của ái dục”.


K: Đó không phải là cái bẫy mà là câu hỏi tự nhiên và không thể tránh khỏi mà anh đã tự hỏi mình trong lúc nói chuyện. Nếu tâm không hết sức cảnh giác, tỉnh táo, thì nó sớm bị ràng buộc trong mạng lưới ái dục của chính nó.


“Câu hỏi cuối cùng: Tâm có khả năng thật sự thoát khỏi mọi ái dục tìm kiếm chứng nghiệm không, điều mà sẽ xóa bỏ ranh giới giữa người chứng nghiệm và vật được chứng nghiệm? (6 )”.


K: Anh hãy tự mình tìm ra. Nếu tâm hoàn toàn tự tại thoát khỏi mọi cấu trúc của ái dục thì tâm đâu có khác gì Tính Không?


Dịch giả : NGUYỄN TƯỜNG BÁCH


………………………………………………………………………………………………..


Ghi chú của người dịch


(1) Void. Từ này được dịch là “sự trống rỗng” hay “Tính Không” tùy theo nội dung câu chuyện.


(2) Thơ hay kệ bằng tiếng Sanskrit, thường gồm hai câu, mỗi câu 16 âm.


(3) Gita. Viết tắt của Bhagavad-Gita (Chí tôn ca) và Upanishad (Những bài thuyết giảng) là kinh sách then chốt của Ấn Độ giáo.


(4) Kể từ đây từ “Void”được dịch là Tính Không vì đã đi vào nội dung đích thực của triết học Tính Không.


( 5) “Tâm sở cầu sinh ra người chứng nghiệm” chứ không phải “người chứng nghiệm có tâm sở cầu”. Xin độc giả chú ý, đây là chỗ cần hiểu rõ: “Tâm sở cầu” tạo nên trong dòng tâm thức một chủ thể mà ta mệnh danh là “Người chứng nghiệm”. Không có tâm sở cầu thì cũng không có người chứng nghiệm.


(6) Khi ranh giới giữa người chứng nghiệm và vật được chứng nghiệm được xóa bỏ thì sẽ có tình trạng phi thường mà tác giả nói về cô bé đội giỏ trong phần đầu của bài này.

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on August 15, 2019 19:42

August 14, 2019

Còn đó của ngày xưa…  

 


 


Còn đó của ngày xưa…  

tặng Minh Trân


 


Đỗ Hồng Ngọc


 


Đặc San Liễu Quán, Huế.
Vu Lan PL 2563 (2019)


Trong lúc cả “thế giới phẳng” đang đối đầu với dịch béo phì và những hệ quả của nó thì ở Nhật hình như không có hiện tượng béo phì, ít ra là ở vùng Hyogo, Kobe. Trong sân trường Đại học Sư phạm Hyogo, nơi tôi có dịp đến thăm, đầy tiếng cười đùa rộn rã  của các sinh viên nam nữ. Họ rất dễ thương. Không quen biết gì cũng cúi rạp chào mình rất lễ độ. Khi ra dấu xin chụp ảnh, họ cười rất tươi,  sửa lại cái dáng cho… nghiêm chỉnh một chút! Thỉnh thoảng tôi cũng “chộp” lén một vài tấm kỷ niệm những lúc họ đang ăn ngon lành ngoài nắng sân trường hoặc ríu rít đẩy nhau lên xe bus tay xách nách mang khi trở lại trường sau ngày nghỉ cuối tuần. Họ hồn nhiên. Họ tươi tắn. Nói chung rất dễ thương. Và đẹp. Cái đẹp của phương Đông. Kín đáo, thùy mị, dịu dàng, và… thon thả. Lạ, không thấy có hiện tượng béo phì ở đây, trong sân trường cũng như ngoài đường phố, siêu thị, sân ga. Có lẽ có một chính sánh y tế công cộng nào đó âm thầm quản lý toàn bộ chăng?  May mắn đều do…sắp đặt mà! Đúng vậy. Cái cách quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm của họ khó mà có thể béo phì, khó mà có thể ngộ độc thức ăn! Món ăn nào cũng kiểm tra kỹ, bao bì, đóng gói, cân đong đo đếm cẩn thận, từ củ gừng, củ khoai, đến vài cọng hành, lá hẹ! Món ăn nào cũng có hạn, lúc nào cũng phải mới toanh. Một số sinh viên nước ngoài thường chỉ dẫn cho nhau … cách  mua thức ăn vào những ngày sắp hết hạn, giá rẻ đặc biệt. Đem về bỏ tủ lạnh có thể… tự  gia hạn khi cần! Bởi vì thức ăn ở Nhật quá đắt. Đắt gấp cả chục lần ở ta. Lại nhạt nhẽo. Thiếu  gia vị. Hình như họ không cần ăn…ngon, họ chỉ cần ăn tốt. Chất lượng thì tuyệt vời: nấm, đậu hủ, rong biển, cá… Và nhất là cá sống, trời ạ! Ăn phát sợ! Sợ là vì mình không quen ăn mà cũng vì mình vốn thường bị ăn cá ươn, cá ướp hàn the, ướp formol…  nên cũng giống như chim bị ná sợ cây cong. Nấm cũng vậy. Lần nào ăn nấm tôi cũng rờn rợn nhớ những vụ ngộ độc nấm xứ mình. Tôi có đến thăm Sở Y tế Hyogo. Ở đó người ta trình bày cho tôi xem cách quản lý chất lượng thực phẩm ra sao. Và tôi hiểu tại sao người Nhật khó mà có thể béo phì được. Ở đâu cũng thấy họ thon thả. Họ mặc kimono rất đẹp dù có vẻ hơi đơ cứng, lắc lư. Nay họ “nhập khẩu” áo dài của ta vào nữa thì lại càng thon thả, càng bay bỗng! Không bị béo phì, không thừa mỡ thừa đạm thừa bột thì người Nhật ít bị bệnh tim mạch, tiểu đường, huyết áp các thứ như ở một số quốc gia khác. Nhưng chưa hết! Kiểm sóat thực phẩm, cân đong đo đếm calori thu nhập hằng ngày của con người chỉ là một phần của chuyện chống béo phì. Cái hệ thống  giao thông công cộng của họ mới là cái đóng góp đáng kể hơn!  Ở Âu Mỹ, ở Úc.. hệ thống tàu điện đơn giản và tiện lợi khiến người ta làm biếng, không phải đi lại, vận động nhiều . Ở  đây thì không! Người ta chạy hộc tốc, chạy có cờ. Rầm rập. Rầm rập. Ngược xuôi, phải trái, lộn qua lộn về khắp nơi. Hình như khách lạ ai cũng năm lần bảy lượt nhầm ga, nhầm giờ. Các nhà ga thì hành lang dài hun hút, thang cuộn rất ít, hoặc chỉ có một chiều lên, còn dành cho lội bộ! Lội rả giò!  Rõ ràng là có sự cố tình… sắp đặt để mọi người phải cuốc bộ năm ba cây số,  phải leo cầu thang hằng trăm bậc mỗi ngày. Tóm lại, người ta âm thầm buộc mọi người phải… vận động! Béo phì sao nổi? Ăn uống được kiểm sóat, vận động thể lực được kiểm soát. Kết quả là người Nhật muốn lười, muốn nhàn, muốn béo phì… đều không được. Họ chỉ còn có mỗi một việc phải làm: đó là cật lực làm việc, và… sống lâu. Sống lâu vì không… chết được. Bệnh đâu mà chết? Và rồi chỉ còn những người…già, ngày càng già, không biết để làm gì! Ở trường đại học Konan, bác sĩ Matsuura chỉ cho tôi xem phòng nghiên cứu đặc biệt những động tác của từng cơ bắp của con người. Nhờ đó tìm ra những khuyết điểm trong sự vận hành của từng cơ bắp để có thể phục hồi hoặc chế tác các dụng cụ hỗ trợ phù hợp cho người cao tuổi. Tóm lại, ở Nhật lười không được, nhàn không được, bệnh không được, và chết sớm…cũng không được!  Một xứ sở thần tiên? Một nơi không còn sinh lão bệnh tử? Không phải! Giáo sư Katsuno, chuyên gia Giáo dục sức khỏe nói với tôi, đây là một vấn đề lớn! Quả vậy, chừng mươi năm nay, tỷ lệ tự tử ở người Nhật ngày càng gia tăng, nhiều nơi ở Nhật ngày nay đã có… “thần” Mc Donald xuất hiện, với lọai MegaMac mà trẻ con người lớn đều ưa! Các nghiên cứu cho thấy gène “béo phì” ở người Nhật thấp hơn người Mỹ gấp 10 lần, nhưng nay tỷ lệ trẻ con Nhật béo phì ngày càng gia tăng. Một nghiên cứu cho thấy trong nhiều thập kỷ qua, tuổi thọ của người dân Okinawa  đứng vào hàng đầu thế giới, nhưng từ khi fast food kiểu Mỹ tràn vào thì tuổi thọ của dân Okinawa đã tụt xuống nhanh!


 


Buổi sáng, giáo sư Katsuno, hiệu phó trường Đại học sư phạm Hyogo đưa chúng tôi đến thăm Đại học phụ nữ Konan ở Kobe. Trường nằm trên lưng chừng một ngọn núi cao. Lồng lộng biển khơi trước mặt! Giữa sân trường đại học nữ là một… người đàn ông khỏa thân, ngồi suy tưởng! Đó là bức tượng nổi tiếng Le  Penseur của  Rodin!  Ông đang  ngẩm ngợi điều chi?   Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật? Vợ Nhật ư, tìm đâu ra bây giờ? Bây giờ các cô gái Nhật đâu có chịu lập gia đình, đâu có muốn sanh con đẻ cái. Tiếp chúng tôi là Bác sĩ Matsuura, một chuyên gia về sức khỏe cộng đồng, giáo sư của trường. Matsuura là một bác sĩ… đẹp trai, khoảng ngoài 60, nhiệt tình và cởi mở. Đúng chất người làm cộng đồng! Khi mới ra trường được 10 năm, ông  tình nguyện về một hòn đảo xa để thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe cho người dân- đa số là người già- kết hợp giữa y tế và  phát triển cộng đồng. Chương trình thành công. Người già không ai… tự tử, người trẻ chịu lập gia đình! Hiện nay chương trình này đã trở thành một mô hình tốt. Buổi trao đổi giữa chúng tôi càng trở nên tương đắc, hào hứng. Bởi riêng tôi cũng đã có khá nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực này từ năm 1984, khi thực hiện Chương trình săn sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em ở phường 13 Quận 6 và từ năm 1986, trong Chương trình Hiệp Phước, tại một xã cù lao nghèo thuộc huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh. Khác chăng là ở  mục tiêu. Ta thì hạn chế sinh đẻ còn Nhật thì khuyến khích sinh đẻ. Ta thì tập trung lo cho trẻ con suy dinh dưỡng, sốt rét, bệnh nhiễm trùng còn Nhật thì lo cho người già, tàn phế, tật nguyền, chán sống… Nhưng nói chung phương pháp vẫn là Tiếp cận dựa vào cộng đồng (community-based approach) ,dựa trên những nguyên tắc như tham gia cộng đồng (community involvement), phối hợp liên ngành (intersectoral cooperation) và kỹ thuật học thích hợp (appropriate technology). Chủ khách đã trở thành tri âm tri kỷ tự lúc nào! Bác sĩ Matsuura  mời chúng tôi tham quan các khoa phòng của trường, đặc biệt nơi nghiên cứu chi tiết các động tác của cơ thể con người để hỗ trợ người già khiếm khuyết. Rồi ông hào hứng mời chúng tôi về thăm nhà riêng!


Nhà bác sĩ Matsuura ở trên lưng núi, xuyên qua những con đường đầy ắp hoa đào quanh co khúc khuỷu. Một ngôi nhà tuyệt đẹp. Minh Châu, cô sinh viên cao học người Việt phiên dịch cho chúng tôi, từng sống ở Nhật nhiều năm, đã phải kêu lên: Nhà giàu lằm bác ơi! Đó có lẽ là chỗ khác nhau rõ rệt nhất giữa bác sĩ cộng đồng ở Nhật và ở ta! Nhà chỉ còn hai ông bà. Hai người con lớn đều đã đi làm xa. Tôi đùa, thế thì ông sẽ đựơc sự chăm sóc và quản lý chặt chẽ của bà! Ông cười đồng tình! Bà cười bẽn lẽn. Rồi tôi nói thêm: Chỉ có cách là xúi mấy đứa nhỏ lập gia đình để có cháu cho bà chăm sóc. Lúc đó may ra ông mới được thoát! Cả hai ông bà đều kêu lên nhưng tụi nó có chịu lập gia đình đâu! Đột nhiên bà hỏi chồng: Có mời khách uống trà không? Rồi thân mật đẩy chiếc cửa ngay bên vách phải mà tự nảy giờ tôi chẳng ngờ có một phòng trà ở đó.



Nhật mới có “trà đạo” thì phải. Một nếp sống tâm linh của cả một dân tộc. Trà đạo không phải là đạo…trà! Không dành cho những người ghiền trà. Trà đạo càng không phải là một cách uống trà,  một nghi thức uống trà, kiểu cách, xa hoa nào đó!


Một căn phòng vuông vắn và trống huếch, được trải những tấm tatami tinh tươm. Làn gân chiếu nhấp nhô như những đợt sóng ngầm. Có những đường viền đậm. Một góc lõm tokonoma sâu thăm thẳm. Một bức thư họa kakejiku … ngoằn ngoèo huyền bí. Lò lửa ngun ngút ở giữa phòng. Đốt bằng thứ than cội anh đào. Chiếc gáo. Hộp trà. Cối gỗ…    Mấy cái chén tống bậm trợn như giả vờ thô kệch mà ngạo nghễ, bay bỗng những hoa văn.  Tự dưng thấy lòng hẫng nhẹ. Bụi bặm đường xa gạt bỏ hết bên ngoài. Một không gian khác. Một thời gian khác.Lòng rỗng không. Phòng rỗng không.



Trà xanh Nhật lạ lùng. Cái màu xanh như của cốm làng Vòng. Xanh lá mạ. Xanh nếp con gái. Đòng đòng… Màu xanh không mất đi dù đựơc phơi nắng, giã nhuyễn bao lần. Có những nguyên tắc chung nào đó nhưng mỗi “trà nhân” đều có cách pha riêng của mình, phóng khoáng, tự do và đầy ngẫu hứng. Nếu không vậy, chắc họ đã chế ra các cỗ máy…cho “trà đạo” hàng lọat rồi!  Ở đây… là con người. Chính con người. Là bóng dáng người phụ nữ Nhật. Rón rén mà nghiêm trang. Thanh thoát mà miên mật. Chính xác. Thuần thục. Mỗi động tác đều mang một ý nghĩa nào đó. Một hồn Nhật lâng lâng của những kawabata, akutagawa… xa lắc xa lơ.


Khi nâng chén ngang mày, nghe thoáng mùi hương trà xanh tỏa ngát. Nếm. Không chát đắng. Tan loãng. Nghe ngóng. Ngập ngừng. Bàn tay nâng niu, bàn tay che chở. Bàn tay nào của Đức Phật mà Tôn Ngộ Không cân đẩu vân ngàn lần không thể vượt qua? Chậm rải, từ tốn, cẩn trọng. Để nghe cho hết từng tác động thân hành.  Nghi thức chỉ là tướng. Ly tướng thì thấy. Thấy gì? Thấp thoáng bóng Trương Chi dưới đáy ngọc hay Duy Ma Cật giữa trùng vây?


Hôm đi Nara, thành phố có những ngôi chùa cổ nổi tiếng, nhưng đọng lại trong tôi chính là vườn nai. Vườn mênh mông mà nai cũng mênh mông! Tự dưng tôi nghe gần gũi lạ. Như đang ở nơi Đức Phật thường cùng các đệ tử dạo chơi, đàm đạo, và… uống trà!  Những con nai bây giờ cũng hiền lành như hồi đó. Lang thang  trong khu vườn xanh mướt hoặc ngẩn ngơ bên bờ suối, rừng cây, hồ nước…  Chúng thân thiết sẻ chia những mẩu bánh cám cùng du khách, lửng thửng bước theo họ. Dịu dàng, thong dong và tĩnh lặng.  Và ơ kìa, một trà thất trên sườn đồi giữa vườn nai. Trà thất chênh vênh, bấp bênh, đơn sơ mấy cọc rào tre, chơ vơ vài bức phướng dưới ngàn hoa lá đủ sắc màu. Mùa Đông như chưa qua mà mùa Xuân chưa đến hết, vẫn còn ngập ngừng đâu đó. Gần cửa trà thất là một tảng đá lớn tạc thành cái chén đường kính cả thước. Nuớc chảy từ một máng tre, tuồn tuột, leo lẻo. Một cái gáo tre vắt ngang, mong manh. Chén trà của Trời đất mà mỗi trà thất đều phải có như một biểu tượng.  Đúng là một trà thất của ngày xưa sót lại. Trà thất lặng lẽ mà ấm cúng. Khiêm cung. Cả cái cửa vào cũng khiến ta phải gập mình xuống để nhẹ nhàng lướt qua. Trong nhà ơ hay đông đúc mà im ắng lạ! Thì ra, họ đang thuởng thức món… cháo trà! Trà đạo ở Nhật không chỉ uống mà còn… ăn. Cháo trà. Cơm trà. Và,  có thể lắm, nhai trà, xỉa trà nữa không chừng! Cái ăn, cái uống… chẳng là đạo ư?


Bỗng dưng tôi nhớ đến trà của mình! Thứ trà vua mà các cung nữ phải bơi thuyền lắng lấy những hạt sương còn đọng trên cánh lá sen mỗi sáng tinh mơ,  đến ly trà đá mát rượi đất phương Nam,  rồi chè vối của cây đa bến nước, con đò, và… cô hàng chè yếm thắm. Lại nhớ Lâm Đồng với những đồi trà tít tắp xanh rợn chân trời và những cô gái nhấp nhô gùi trên sóng, những “cô nàng về để suối tương tư” thuở  nào.  Tôi lại nhớ thừ trà nõn, trà búp, trà con nít, trà móc câu Đà Lạt nhọn hoắc, trắng xóa. Uống thấy thương! Nó có cái vị đậm đà. Càng uống càng ngây ngất. Uống trà, với tôi, là uống với ai, uống ở đâu, uống lúc nào, và uống cách nào. Uống trà mà không biết mình đang uống trà thì thật là đáng tiếc cho trà vậy!


Tôi nhớ mãi buổi đến thăm nhà bác sĩ Matsuura, thưởng thức thứ trà đạo chính thống của Nhật do bà Matsuura, một giáo sư trà đạo tự tay pha chế dành cho những người bạn phương xa của chồng. Hóa ra vẫn còn đó những người phụ nữ Nhật của ngày xưa./.


(ĐHN)


 

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on August 14, 2019 03:44

August 10, 2019

Thơ & Đời TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG

 



Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vừa tròn 84 tuổi, vừa ra mắt tập “Thơ & Đời Tôn Nữ Hỷ Khương“, gom góp những bài viết của thân hữu và báo chí viết về Nữ sĩ… lâu nay in thành một tập chia sẻ với mọi người cho vui.


Trong tập này có một bài của Đỗ Hồng Ngọc viết về bài thơ Còn gặp nhau… (2010).


Dịp này, xin post lại để tặng bạn bè.


Trân trọng,


ĐHN



 


“Còn gặp nhau…”


Giữa lúc nhiều nhà thơ đua nhau làm mới thơ, “lạ hóa” thơ thì mấy câu thơ rất đỗi đời thường như một sự buột miệng, một tiếng thở dài, một lời tự nhủ của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương có vẻ như… lạc điệu mà bỗng xuất hiện hằng loạt trên lịch, trên thiếp xuân, trên Agenda  và cả thư pháp các loại với đủ mọi chất liệu đá, cát, giấy, lụa… không khỏi làm cho ta phải ngạc nhiên! Có chút gì đó trái ngoe trong thi phú buổi này chăng?


Còn gặp nhau thì hãy cứ vui


Chuyện đời như nước chảy hoa trôi


Lợi danh như bóng mây chìm nổi


Chỉ có tình thương để lại đời…


(Tôn Nữ Hỷ Khương)


Và cứ thế, “Còn gặp nhau…”, “Còn gặp nhau….” lặp đi lặp lại, những lời tuồn tuột tự đáy lòng, có vẻ gì đó như một giật mình, thảng thốt, bùi ngùi trong những buổi hàn huyên giữa những bạn bè gần xa. Thơ như nói,  như chẳng hề có chút đẽo gọt, dụng công…- tạm gọi là “thơ nói”- cũng đã có từ xưa xa:


Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người tới chốn lao xao…


(Nguyễn Bỉnh Khiêm).


Làm sao mà những câu “thơ nói” đó rung động lòng người, khiến người ta giật mình đánh thót, mà ngộ, ai cũng nhớ, cũng thuộc, và mỗi khi có dịp thì lẩm nhẩm: còn gặp nhau, còn gặp nhau…


Thì ra giữa thời buổi trái đất chỉ còn là một hòn bi xanh, một “thế giới phẳng” nhỏ xíu trong lòng bàn tay, mọi chuyện trên trời dưới biển gì cũng mồn một trước mắt,  truyền thông đa phương tiện tràn ngập đến không còn chút thong dong, người người vẫn thấy nhau, vẫn “thơn thớt nói cười” với nhau mà hình như chẳng bao giờ gặp nhau!


Rồi hình như  người ta bỗng sực nhớ, bỗng ngộ ra, bỗng cảm nhận được cái mong manh của đất trời, của thiên hà trong ngàn tỷ thiên hà trôi dạt, của kiếp người sương khói trong bối cảnh lạ lùng chiến tranh, dịch bệnh, bão lũ, sóng thần, động đất… triền miên!


Rồi hình như người ta bỗng sực nhớ, bỗng ngộ ra, bỗng cảm nhận sờ sờ trước mắt cơn đại hồng thủy sẽ ập tới vì trái đất nóng lên, con người đua nhau hủy diệt thiên nhiên, môi trường sống của mình, để rồi đâu đâu cũng thấy “những cảnh sửa sang tầm thuờng giả dối/ hoa chăm cỏ xén lối phẳng cây trồng” (Thế Lữ) với dừa giả, cau giả, hoa giả, đồi giả, núi giả… !.


Thú vị là những câu thơ dung dị đó của Hỷ Khương được nhiều người thuộc lòng, buộc miệng nói ra… đến nỗi người viết thiệp cũng viết, in lịch cũng in, đục đá cũng đục… mà chẳng cần biết tác giả là ai. Tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa nó sẽ trở thành những câu ca dao như “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…” bởi thế hệ nào mà chẳng có người trèo lên cây bưởi, thế hệ nào mà chẳng có người kêu lên “Còn gặp nhau…” ?


Có lẽ Tôn Nữ Kỷ Khương mang cái gien của phụ thân, cụ Ưng Bình Thúc Giạ. Những câu hò “Chiều chiều trứơc bến Văn lâu/  ai ngồi ai câu / ai sầu ai thảm/ ai thương ai cảm/ ai nhớ ai mong.. thuyền ai thấp thoáng bên sông/ đưa câu mái đẩy chạnh lòng nứơc non…”  nhiều người vẫn thuộc mà vẫn tưởng là một khúc hát dân gian, chẳng nhớ tác giả là ai!   Cụ Ưng Bình cũng đã viết nên những câu thơ tưởng như câu nói bình nhật:


Thuở ra sân khấu không làm rộn

Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi!


để nói về một thuở làm quan của mình. Hay:


Biết đủ dầu không chi cũng đủ/

Nên lui đã có dịp thì lui…


lúc ung dung trở gót.


Do đâu mà những câu thơ của nhiều ngàn năm trước trong Kinh Thi vẫn còn làm cho lòng ta xao động? Ấy bởi vì nó nói từ nỗi lòng, “thốn tâm thiên cổ”, nên dù đựơc viết dưới bất cứ dạng ngôn ngữ nào, hình thức nào thì cái hồn của thơ vẫn là cái cảm xúc nhân tình. Hư Chu, ngàn năm trước, viết tựa cho tập truyện Kinh Thi đã hỏi: Thơ tại sao mà làm ra? ( Thi hà nhi chi tác dã?) Để rồi trả lời: vì nó là tiếng kêu của cõi lòng!


Còn gặp nhau thì hãy cứ vui!…


Đỗ Hồng Ngọc


Comments trên trang www.dohongngoc.com


Giang says


30/04/2010 at 6:45 chiều

Thưa thầy, “thơ nói” nhưng cũng là “thơ hát” nữa, nó run rẩy theo từng nhịp điệu, cung bậc của cõi lòng, em rất thích nghe ngâm thơ với tiếng sáo họa theo, nhưng rất tiếc hình thức thơ biểu diễn thế này gần như đã không còn thấy nữa.


Huyền Trân says


02/05/2010 at 11:18 chiều

“Biết đủ dầu không chi cũng đủ

Nên lui đã có dịp thì lui”


Hai câu thơ của cự Ưng Bình hay quá chú Ngọc ơi! Có lẽ đó là điểm chung của nhiều “cõi lòng” . Vậy nên những “cõi lòng” cứ mãi thổn thức:


“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui” ,



“Chỉ có tình thương để lại đời” …


Ngọc Đài says


04/05/2010 at 11:02 chiều

Chúc bác Ngọc luôn khỏe mạnh, mỗi lần buồn hay thất vọng về cuộc sống cháu luôn nhớ đến bác với một hình ảnh người thầy thuốc sống lạc quan. Cháu luôn mong bác khỏe mạnh để còn có thể viết nhiều hơn nữa, để làm cuộc sống này đẹp hơn!


Giang says


05/05/2010 at 6:26 chiều

Thuở ra sân khấu không làm rộn

Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi!

Đọc lại bài viết này, 2 câu thơ “đời” quá.


Phương Bối says


06/05/2010 at 2:28 sáng

Xin cám ơn bác sĩ ĐHN.


Thật là vui quá khi bây giờ được “gặp” ANH thường xuyên hơn…


Đúng như anh đã …hứa “Có lẽ bây giờ mình mới có nhiều thì giờ hơn để… làm việc!” (16/04/2010 lúc 7:03 sáng ĐHN )


Bac Si Do Hong Ngoc says


06/05/2010 at 7:37 sáng

Giang thấy không, nhà thơ viết: “ra sân khấu” và “hạ vai tuồng”… chẳng phải rất “đời” đó sao? Nếu ai cũng hiểu “đời” như vậy, có lẽ sẽ bớt “cương” trên sân khấu. Em thấy không, nhà thơ viết “ít hổ ngươi” chứ chẳng phải không hổ ngươi! Đã đóng tuồng thế nào cũng có người chê kẻ khen, thế nào cũng có lúc sơ sót, nên ít hổ ngươi đã là tốt lắm rồi! Thầy cảm ơn em.


Tịnh Phan says


11/05/2010 at 3:05 chiều

Hai câu thơ đúng là rất “đời”.

“không làm rộn”, “ít hổ ngươi” thể hiện sự khiêm tốn, tự trọng, liêm khiết của “quan”, chứ đâu như:

“Thuở ra sân khấu tha hồ múa,

Hạ cánh an toàn sống khỏe re.”


Bac Si Do Hong Ngoc says


11/05/2010 at 4:00 chiều

Hay! Quan xưa khác quan nay co chút xíu đó thôi Tịnh Phan ơi!


Giang says


11/05/2010 at 4:46 chiều

Dường như càng hiện đại, càng đầy đủ về mặt vật chất thì con người lại càng thiếu thốn về mặt tinh thần… giữa người với người là sự lạnh nhạt vô cảm với “ánh mắt nhìn ráo hoảnh nhân danh áo cơm”. Trong cuộc đời xô bồ, trong cái sân khấu ấy, mỗi người vào vai một nhân vật, để rồi khi hạ vai xuống, còn lại gì 2 từ “hổ ngươi” !


hoang hoang says


13/07/2010 at 10:55 chiều

nỗi lòng cũng đang ngỗn ngang. đoc bai của BS thấy rưng rưng quá. Thanks


hoang hoang says


13/07/2010 at 10:58 chiều

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui…..Chỉ có tình thương để lại đời…trong ”con đường đau khổ’ cung có câu rất hay : những cuộc chiến tranh rồi sẽ im ắng.. chỉ có tình yêu là còn lại


dong ha says


08/06/2011 at 6:39 chiều

“Biết đủ dầu không chi cũng đủ

Nên lui đã có dịp thì lui”


Thơ hay nhưng làm được như thơ thật khó!


Bac Si Do Hong Ngoc says


09/06/2011 at 9:01 sáng

Bạn nói đúng đó dongha ơi! Chúc sức khỏe.


dong ha says


09/06/2011 at 11:16 chiều

Chào Bác sĩ ạ.ĐH không giỏi viết chỉ thích đọc và cảm một mình thôi.Gần đây đọc trang nhà của Bác sĩ nhiều cái hay nên cao hứng bày tỏ một chút Chúc Bác sĩ sức khoẻ viết nhiều bài hay để có lúc ĐH như thấy mình trong đó…!

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on August 10, 2019 19:54

XA XÔI MÀ GẦN GŨI

 


XA XÔI MÀ GẦN GŨI


 


Đỗ Hồng Ngọc


 


Will Durant, tác giả Nguồn gốc văn minh (bản dịch Nguyễn Hiến Lê) cho rằng đỡ đẻ là nghề Y đầu tiên của loài người. Con người tự nhiên mà biết… đẻ và đỡ đẻ, rồi kinh nghiệm cứ tích lũy dần lên. Trong một thời gian dài của lịch sử, bà mẹ tự đẻ và tự đỡ cho mình, cũng chẳng cần ai giúp. Bây giờ vẫn còn thấy ở một số nơi bà mẹ đau đẻ chạy vào rừng, ôm lấy gốc cây, lòm còm, lom khom rặn đẻ, đẻ xong, tìm tre nứa cắt rún cho con rồi bế con còn đỏ hỏn nhúng vào nước suối lạnh ngắt cho khóc thét lên càng to càng tốt…


 


Ở ta ngày xưa, không lâu lắm, dưới thời Pháp thuộc thôi, theo Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, sản phụ sau sanh khi rốn rụng còn ướt thì lấy đất vách bôi vào; cuống rốn được cất kỹ để khi bé ốm đau đem đốt cho uống… Gặp trường hợp sinh khó, rặn lâu ra thì ông chồng phải leo lên mái nhà, cởi hết các nút lạt, hoặc nhổ hết các cọc rào, hy vọng nhờ vậy mà vợ dễ sinh! Có khi ông chồng phải lội qua sông, nhảy qua ao, quậy nước trong lu cho bé được trơn, dễ ra.


 


Hơn 50 năm về trước, thời tôi còn học Y khoa, phải học đến năm thứ ba, chúng tôi mới được thực tập đỡ đẻ trên người. Mỗi sinh viên phải đỡ ít nhất 20 ca sanh thường, nghĩa là không có bệnh lý. Đêm nào chúng tôi cũng phải trực để “bắt ca”, nghĩa là chọn những ca tương đối dễ một chút theo chỉ dẫn của các cô nữ hộ sinh, rồi bám theo săn sóc, hỏi bệnh sử, làm hồ sơ bệnh án. Đưa sản phụ về phòng, thông nước tiểu, thông trực tràng, làm vệ sinh các thứ… theo dõi cơn co tử cung, tim thai, ghi vào hồ sơ thật chi tiết. Có bà lúc đau bụng sanh, chửi chồng tưng bừng, coi như ông là nguyên nhân gây ra nỗi đau khổ này! Ông chồng trốn mất, đến lúc sanh xong mới toe toét cười. Khi những cơn rặn cuối cùng đẩy được phần chỏm đầu em bé ló ra, phải làm sao khéo léo để không làm rách tầng sinh môn. Một tiếng khóc thét lên của bé. Bé khóc càng to thì chúng tôi càng cười rạng rỡ. Vì nếu bé không khóc thì nguy! Phải đét vào mông cho bé khóc, rưới alcool lạnh tạo kích thích hô hấp. Đâu đó xong xuôi, mới thở phào nhẹ nhõm. Dĩ nhiên không phải mọi lúc đều trơn tru tốt đẹp như vậy. Có khi, thai chuyển ngược, không thò đầu mà thò ra một cánh tay. Có khi cuống rốn quấn mấy vòng ở cổ làm bé nghẹt thở, có khi sót nhau, có khi đẻ xong một lúc lại xuất hiện thêm một bé nữa… (thời đó chưa có siêu âm).


 


Điều thú vị trong “khoa học” đỡ đẻ là đi lòng vòng một hồi rồi trở lại với “tự nhiên”. Trước kia tại Âu Mỹ, sanh đẻ một cách “khoa học” là được gây mê, mổ xẻ, cách ly mẹ con ngay sau sanh, nhưng từ vài chục năm nay đã trở lại phương pháp tự nhiên, cho sản phụ sanh đẻ trong khung cảnh gia đình, có mặt đức ông chồng bên cạnh, khi sanh xong thì cho bé nằm ngay với mẹ để được bú sớm và cho bà mẹ đi lại ngay. Gần đây có “ngân hàng máu cuống rốn” nhằm tồn trữ trong kho lạnh chừng 3cm cuống rốn để sử dụng sau này kh itrer mắc bệnh nặng như ung thư, suy tủy. Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng đã có ngân hàng máu cuống rốn dành để cấy chữa bệnh về máu. Lạ là không biết tại sao người xưa đã biết tồn trữ cuống rốn dành để chữa bệnh!


 


Ở Thụy Điển, một nước có tỷ lệ tử vong mẹ thấp nhất thế giới, thấp gần 4 lần của Mỹ, và 8 lần của Nhật, việc sinh đẻ hiện nay đã ngày càng gần gũi với tự nhiên. Thí dị, bà mẹ không cần phải nằm trên bàn sanh, dạng chân ra ở một tư thế khó chịu, có khi còn bị cột tay chân cho khỏi té, thì bây giờ người ta cho bà mẹ tự chọn tư thế sao cho thoải mái, bớt đau, như ngồi xổm, ôm lấy người thân, ôm ghế (như ôm gốc cây); các vụ thụt tháo trực tràng, cạo lông… đều không cần thiết vì không ích lợi gì mà còn làm sản phụ khó chịu. Lúc sanh có thể ở trong tư thế nửa nằm nửa ngồi, quỳ xổm, ngồi ghế thấp, dạng chân, nằm nghiêng, bò… miễn sao được thoải mái. Tư thế tự nhiên này còn giúp cho cổ tử cung mau nở trọn. Cắt tầng sinh môn cũng rất hạn chế. Người thân, nhất là ông chồng, được tham gia trong quá trình sanh đẻ của sản phụ, sẽ rất tốt về mặt tâm lý cho bà mẹ, chẳng khác ngày xưa ta bắt ông chồng lội qua sông, quậy nước ao… Bé sinh ra được ủ ấm ngay (như nằm lửa). Nghiên cứu ở các nước đang phát triển cho thấy chính nhờ nằm lửa đã cứu sống nhiều trẻ, do thường bị sanh non, thiếu ký, suy dinh dưỡng từ trong bụng mẹ, rất kém chịu lạnh. Chuyện đánh thuốc mê, sanh mổ… rất ít khi xảy ra. Tóm lại, họ gần như trở về với tự nhiên, chỉ khác một chút là hoàn toàn vô trùng và nhờ đó mà cuộc đẻ rất thoải mái và an toàn. Khoảng cách giữa khoa học và tự nhiên vừa xa xôi mà lại vừa gần gũi biết bao!


 


*


Nhưng “vậy mà không phải vậy”! Những tưởng cuộc sanh nở của người mẹ sẽ được hoàn toàn êm ái và nhẹ nhàng, vừa khoa học vừa gần gũi với tự nhiên, nhưng không. “Khoa học”… đã can thiệp một cách không nương tay: sanh mổ đang gia tăng một cách đáng ngại!


Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) khuyến cáo, các cuộc sanh mổ (mổ bắt con) phải có chỉ định y khoa rõ ràng và tỷ lệ phải nên nằm trong giới hạn 5-10% cho phép, không được vượt quá 15%, vì nếu vượt quá con số này sẽ mang đến những tai biến cho cả mẹ lẫn con. Theo TSBS Vũ Thị Nhung, Hội Y học Tp.HCM thì trong khoảng 3 thập kỷ gần đây, số trường hợp sanh mổ tiếp tục tăng cao trên thế giới: Ở Mỹ tăng lên đến 32,8%, ở Anh tăng gấp 5 lần so với trước; ở Trung Quốc- nếu năm 1966 tỉ lệ này là 2,4% thì đến 2010 đã tăng đến 46%, trong đó 25% là các trường hợp không vì lý do y khoa- Ở Việt Nam, tại BV Phụ Sản Trung ương, tỷ lệ này vào những năm 60 là 9%, đến năm 2005 tăng lên gần 40% và hiện nay trên 50%.


Tại Hội nghị sản phụ khoa Việt – Pháp 2019, theo PGS.TS Trần Danh Cường – Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương thì tỉ lệ “mổ đẻ” hiện nay tăng nhanh: Trung bình tại TP.HCM khoảng 30%, bệnh viện Phụ sản Trung ương 50%, nhưng có những bệnh viện con số này lên đến 60%. Theo ông, một trong những nguyên nhân là chi phí cho việc mổ đẻ với sanh thường rất khác nhau (Báo Lao Động).


*


Hy vọng tương lai không xa, có một bệnh viện sản khoa “cao cấp” nào đó quảng cáo “Nơi đây sanh đẻ tự nhiên một cách khoa học” và nhiều bà mẹ sẵn sàng trả chi phí cao để được sanh đẻ bình thường.


(Tạp chí Văn hóa Phật giáo, số 327, Vu lan, Phật lịch 2563 (2019)


 

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on August 10, 2019 05:01

VU LAN: Về bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ”

 


 


Về bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ”

Đỗ Hồng Ngọc


(https://tranthinguyetmai.wordpress.co...)


Mùa Vu Lan.  Thật may mắn cho những ai được cài đóa hồng trên ngực áo. Bởi họ còn Mẹ. Tôi thì cài bông trắng. Nhưng điều tôi tin chắc là mẹ tôi đã gặp… bà Ngoại, và vì thế, mẹ đã có thể gài lên ngực một đóa hồng thật tươi từ đó…


Bông hồng cho Mẹ


Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông…


Đỗ Hồng Ngọc

(Vu Lan 2012)


Võ Tá Hân, người nhạc sĩ đã có đến hơn 30 CD nhạc Phật giáo và hằng trăm khúc tình ca nổi tiếng, một hôm tình cờ đọc được bài thơ ngắn ngủn này đã cảm xúc viết nên khúc hát Vu Lan thật thiết tha dành cho những người con… không còn Mẹ.

Và tiếng hát da diết của ca sĩ Thu Vàng thấy trên youtube:


 



 


Rồi Bội Hoàng, từ Cần Thơ đã cảm tác :


Tình yêu còn mãi


Đọc bài thơ mà mắt lệ đoanh tròng

Ai thấu hiểu một tình yêu đã mất

Ai tự hào cài hoa hồng lên ngực

Dù đã qua cái tuổi cổ lai hy!


Con chỉ muốn luôn được cài hoa đỏ

Dù tuổi đời Má đã rất mong manh,

Dù con Má đã con cháu vây quanh,

Vẫn muốn được mỗi ngày chăm sóc Má.


Được bón cơm, được đút cháo, châm trà

Được tắm rửa, được thay quần áo mới

Được ngồi bên nghe những lời Má nói

Mà dậy lên niềm thương cảm riêng tư


Má bỏ con năm Má chín mươi tư

Rời cõi tạm, Má lên đường thanh thản

Con cài hoa cho màu áo Má đỏ

Để Má về gặp Ngoại vui đoàn viên


(Bội Hoàng, 2014)


Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh từ Santa Ana, mùa Vu Lan 2016 viết trong bài “Ngoại Chờ Bên Kia Sông”:


“Lại đến mùa Vu Lan. Những đóa hồng đỏ hạnh phúc bung nở vành môi vẽ một vòng xum vầy thỏ thẻ Mẹ Ơi. Những đóa hồng trắng ngân đọng nước mắt lung linh đôi bờ xa vắng âm vang tiếng gọi Mẹ Ơi. Trong niềm, vừa hân hoan vừa cảm động, tôi nhớ đến bài thơ về Mẹ mà khi đọc nhịp tim tôi như bị nghẹn,


Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông


(Bông Hồng Cho Mẹ, Đỗ Hồng Ngọc)


Thử xem. Đọc. Nghe. Rồi hít vào một hơi thở sâu, im vắng, thì mình như nghe được tiếng nước mắt đang vỡ ra… Vỡ bung như ngọn sóng xanh lấp lánh biển pha lê. Vỡ tung như ngọn pháo hoa rơi vô vàn sợi ánh sáng trong đêm. Những cái vỡ, không tan mà thăng hoa, phải chăng đó là tận cùng của Đẹp? Như hạt nước mắt này, nó bung bung. Ánh lên bóng của Ngoại đang đứng bên kia sông, bên kia là bên của miên viễn không còn sinh tử? Và Mẹ, Mẹ đang từ cõi chết đi vào cõi sống ấy để lọt vào vòng ôm ấm áp của Ngoại. Mẹ đi từ nụ hồng đỏ nở duyên trùng phùng Ngoại. Ý thơ mầu nhiệm làm sao.


Tôi thấy không nói nên lời được để tả cho chính xác cảm giác của mình về sự mênh mang “ý tại ngôn ngoại” trong sâu thẳm bài thơ này. Về cái rất không nghĩa của Mất Còn. Đến với tôi là ý niệm con đường sinh tử đang xóa đi dưới cảm xúc của đứa con, -là Đỗ Hồng Ngọc đây-, người chiêm nghiệm sống chết thật là như không, đóa hồng trắng người đang đeo là một thực tại, đóa hồng đỏ đang rưng rưng trên áo Mẹ kia, là áo nghĩa của thực. Tất cả đều ở thì đang, không còn hôm qua ngày mai phút tàn giây tới. Sinh mệnh không khởi đi và chấm hết bằng hai đầu tiếng khóc nữa. Là Đây. Là Đang. Một thực tại sống động xóa hết biên giới không gian và thời gian. Hình dung Mẹ, trong hơi thở hắt ra bỗng trong suốt nhẹ nhàng đứng lên, trong ngày hội tưng bừng của Tình Mẫu Tử, cúi nhìn bàn tay đứa con run run cài lên ngực áo mình một đóa hồng đỏ, và Mẹ phất phới đi trong nôn nao cho kịp giờ hẹn với Ngoại. Ôi ta mất mẹ và ôi Mẹ vừa có Ngoại. Vô biên lâng lâng nỗi Còn Mất… Huyễn ảo vô cùng khiến những giây tơ vi tế nhất trong cảm xúc ta bị đánh động.


Ngoại Chờ Bên Kia Sông, tôi viết hoa vì mỗi mỗi chữ của câu thơ này là khởi đề dẫn đến chiêm nghiệm ảo hóa về sinh tử. Và toàn bài thơ là tấm tình trong vắt ban sơ của người con, rất nhỏ, mà cũng đã rất già. Bởi rất nhỏ thì mới yêu thương Mẹ được hồn nhiên như thế. Và phải chăng, rất già mới có thể biến yêu thương ngây thơ thành một tình yêu vượt qua được đau đớn của chia lìa sinh tử, như thế.


Cảm ơn Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, cho tôi biết thêm một nhịp đập thương yêu nữa của Hiếu Tử, cho tôi từ bây giờ đã có thể chấp nhận một cách nhẹ nhàng khi nghĩ đến một lúc nào đó phải xa Mẹ. Không phải là một cái xa hẳn rồi, mất hẳn rồi như tôi vẫn thường nghĩ nữa. Trong hạt nước mắt rơi lại thấp thoáng nụ cười, nhìn Mẹ của ta lại cài hoa hồng đỏ về bên Ngoại. Ôi! Cái không nói của Ngoại Chờ Bên Kia Sông đã lấp đầy cảm xúc và ý nghĩ của tôi đến thế!


Và lúc này đây, còn được thấy mẹ ra vào thì hãy thỏ thẻ bên vai mẹ rằng,


… mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng… (thơ Đỗ Trung Quân)


Trong hoan hỷ địa mẫu tử, tôi đọc thầm cho riêng mình, gửi đến các con tôi,


… tận cùng hạt lệ mẹ

là nước mắt con rơi

tận cùng tiếng cười mẹ

là nụ cười con vừa mở

và con ơi

tận cùng hư vô mẹ

sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại


(thơ NTKM)


Thưa có phải cũng có chút gặp gỡ giữa “sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại” và “Ngoại Chờ Bên Kia Sông”?


NTKM

Santa Ana, Mùa Vu Lan


 


mà nhà phê bình Tô Thẩm Huy cảm thán:


“Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 20 chữ, mà thâm thúy, ảo diệu vô cùng. Đọc lên điếng cả hồn.


Phải chép lại ra đây.


Con cài bông hoa trắng

Dành cho Mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực,

Ngoại chờ bên kia sông


Rõ ràng Nguyễn Thị Khánh Minh đã cảm bài thơ đến vô cùng, đến “tận cùng của đẹp”, tận cùng của ý nghĩa sinh tử kiếp người, không khởi đầu, không chấm dứt. Thời gian tan biến mất. Thơ tuyệt, mà người cảm thơ cũng quá tuyệt. Thật là may mắn có được người đồng điệu như thế.


Bài phổ nhạc hay, hai giai điệu khác nhau mà hòa hợp, hỗ tương lẫn nhau. Tuy thế, cảm xúc khi đọc bài thơ nó đến ào ạt, như cùng một lúc nó trào dâng, bủa vây tứ phía, làm bàng hoàng, run rẩy khắp cả châu thân. Cảm xúc từ bài nhạc nó đến khoan thai, từ tốn, êm đềm”.


Lê Uyển Văn từ Trà Vinh viết: Bài viết tuyệt vời được khơi nguồn từ bài thơ đẹp. May mắn cho chúng ta được thưởng thức những tuyệt phẩm này. Xin đa tạ!


Còn Trieu Minh (Úc) ghi cảm nhận khi nghe bài hát từ giọng ca Thu Vàng: “ Doc va nghe Nhac, nghe Nghen o nguc, nuoc tu lan tren Ma”.


ton  t  comment: “Nghe nhức xương, thấm tới tủy”;


chrslam thì ghi: Đã nghe đi nghe lại cả chục lần bài hát này. “…Mẹ nhớ gài lên ngực. Ngoại chờ bên kia sông…” Một cảm giác khó tả. Cám ơn thi sĩ và nhạc sĩ.


Và E-Temple ghi nhận: “ Chỉ có 4 câu ngắn ngủn thôi mà thành lời ca, và hát mãi không muốn dừng.  Con dập đầu lạy Phật, xin Mẹ được vãng sinh ‘ Nam mô Đại Từ Đại Bi A-Di-Đà Phật….’”


Nhà phê bình văn học Nguyễn Thị Tịnh Thy từ Huế viết trong “Yếu tố bất ngờ trong bài thơ bông hồng cho mẹ”:


“Bông hồng cho Mẹ của bác sĩ – thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay về mẹ. Hay đến mức nào? Hay đến mức lặng người, lạnh người… Bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt ngũ ngôn, chỉ vẻn vẹn bốn câu, hai mươi chữ nhưng đủ để khiến người đọc có nhiều phức cảm buồn vui, thấu đạt lẽ sinh tử, cảm ngộ điều được mất… để có thể tỉnh thức, an nhiên trước sự nghiệt ngã của quy luật sinh ly tử biệt.


(…)


Viết về cái chết, về nỗi đau tử biệt nhẹ nhàng như thế, nhà thơ đã thấm nhuần triết lý của nhà Phật. “Vô thường”, “sắc không”, “tứ khổ”, “diệt khổ”, “từ ái”… được chất chứa trong từng câu chữ giản dị tưởng chừng như không còn là thơ, không phải là thơ.  Mặc dù bài thơ đậm chất triết lý, nhưng chất triết lý ấy đến một cách đơn giản, không trau chuốt gọt giũa, không cao đàm khoát luận. Mọi cảm xúc, tình cảm trong bài thơ vừa như có, vừa như không; vừa rất nặng, vừa rất nhẹ; vừa hiện thực, vừa kỳ ảo. Tất cả đều tùy thuộc vào cách mà mỗi người cảm nhận về cái chết, về tình mẫu tử, về lẽ tử sinh. Sâu sắc và đa nghĩa như thế, Bông hồng cho Mẹ là cả một chân trời nghệ thuật mà ở đó, mọi đường nét nghệ thuật dường như tan biến trong tình cảm sâu nặng của người con đối với mẹ, để rồi lan tỏa đến người đọc. Khiến cho người đang nằm có thể bước đi, khiến cõi chết trở thành cõi sống, khiến âm dương cách biệt trở nên gần lại, đậm chất nghệ thuật nhưng không thấy dấu hiệu của nghệ thuật…”


(đặc san Liễu Quán, số 12, Vu Lan 2017).



Mùa Vu Lan này, xin gởi bạn đôi dòng về bài thơ Bông Hồng Cho Mẹ như một lời chúc mừng đến bạn, người đã rất sướng vui, tự hào, khi còn được cài một bông hồng đỏ thắm trên ngực áo của mình! “Rồi một chiều nào đó anh về, nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu… rồi nói nói với Mẹ rằng… Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không?…” (Phạm Thế Mỹ).


Đỗ Hồng Ngọc

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on August 10, 2019 04:51

August 7, 2019

CHỌN NHỮNG NỤ CƯỜI

 


CHỌN NHỮNG NỤ CƯỜI 

Đỗ Hồng Ngọc


(Văn Hóa Phật Giáo số 322 ngày 01-06-2019


Thư Viện Hoa Sen)


Có câu đúc kết “Năm năm / Sáu tháng / Bảy ngày”, nghĩa là ở tuổi 50, nên có kế hoạch năm; đến tuổi 60 thì chỉ nên làm kế hoạch tháng; còn đến 70 thì tốt nhất nên có kế hoạch… ngày! Cho nên “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui! Chọn những bông hoa và những nụ cười!” (TCS) là phải quá! Vấn đề là ở chỗ chọn lựa. Thiên đàng Địa ngục hai bên… Một cụ già trên trăm tuổi được nhà báo hỏi bí quyết sống lâu, sống khỏe, ông nói có gì đâu, mỗi sáng, thức dậy, tôi tự hỏi hôm nay mình nên ở thiên đàng hay địa ngục đây… rồi tôi chọn thiên đàng.


Có những vùng khí hậu lạ. Một ngày mà có đủ cả bốn mùa: xuân hạ thu đông! Còn muốn gì hơn? Ở một tuổi quá cao nào đó, không phải chỉ cần có kế hoạch ngày mà nhiều khi còn phải có kế hoạch giờ! Sáng khác, trưa khác, chiều khác, tối khác rồi. Làm được gì thì làm ngay. Lát sau mọi thứ sẽ khác. Cần có phương án hai, phương án ba. Cẩm nang để sẵn trong các túi gấm, đến đâu giở ra đến đó!


Từ trứng và tinh trùng, ta hình thành một cái phôi phải nhìn dưới kính hiển vi mới thấy. Rồi rất nhanh, trở thành một thai nhi loi ngoi trong vũng nước ối, trong bụng mẹ. Không thở. Không ăn. Không ngủ. Dĩ nhiên có tiểu tiện và đại tiện khi các bộ phận thải chất bả này hình thành và hoạt động. Thế rồi chín tháng mười ngày ta bung ra ngoài cứ y như cánh hoa phải xòe nở đúng thời đúng tiết vậy. Việc đầu tiên là… thở. Thở mà không xong thì tiêu đời! Bác sĩ sẽ xịt alcool hoặc đét vào đít cho ta khóc thét lên. Khóc càng to càng tốt. Khóc to có nghĩa là thở mạnh. Mệt mỏi rồi nhé! Từ đó đã phải lệ thuộc vào cái gì đó bên ngoài. Rồi phải bú nữa trời ạ. Bú mẹ còn đỡ, cứ vùi đầu mà nút, chả cần ai chỉ dạy! Nhưng nhiều khi phải níu lấy cái bình bú cứng ngắc, ai đó nhét vào miệng vì không có sữa mẹ. Cứ thế mà chùn chụt để nuôi thân. Rồi biết lật, biết ngồi, biết bò, biết đứng chựng, biết đi, biết chạy nhảy, leo trèo… Rồi biết nói năng, suy nghĩ. Nhớ, tiếc, giận hờn, giành giựt, đấu đá, ghen tuông, ích kỷ, thất tình lục dục đủ thứ không lúc nào ngưng. Và dĩ nhiên vẫn thở và vẫn ăn. Rồi nam tu nữ nhũ. Rồi chọn lựa. Rồi giao cấu. Rồi đẻ ra một lô một lốc chẳng biết từ đâu ra.


Đến một hôm, ta từ hùng hục chạy, ta… lững thững đi, rồi chập chững đứng, vật vựa, nghiêng ngả, rồi ngồi một chỗ, mắt lờ đờ nhìn xa xăm, rồi lồm cồm, bò lê, bò lết… Từ chùn chụt, ngấu nghiến, ừng ực, dô dô 100%… ta bỏ ăn bỏ uống, thấy cái gì cũng rệu rạo, nhóp nhép vì xệu xạo răng cỏ. Rồi thở cũng cà giật, cà hước… Ta trở lại cái hồi thai nhi trong bụng mẹ, bây giờ là “mẹ Như Lai”, một vòng khép kín. Thì ra, ta đã từ đó mà đến để rồi loay hoay một vòng về lại chốn xưa. Cứ y như đàn cá hồi, cứ bốn năm lại “hồi” về chốn cũ, đẻ xong rồi chết, sau khi đã làm xong nhiệm vụ truyền giống. Con thiêu thân thì nhào vào ánh lửa. Con bọ ngựa giao cấu xong thì chết ngay trên bụng con cái, làm thức ăn cho con… Con bọ hung hùng hục chui vào đống phân, giành giựt đấu đá để vo tròn một cục phân mang về cho bọ hung cái nuôi con. Cá ếch nhái bò sát chim đều vậy. Cây cỏ cũng vậy. Hoa nở chẳng những đẹp mà còn thơm, lôi kéo lũ bướm ong dập dìu lui tới để mang phấn đi muôn phương.


Nhìn suốt cuộc hành trình đó, có cái gì tức cười, vừa tàn nhẫn vừa thương tâm. Cái hiện hữu chỉ là thị hiện, trình hiện chút chơi vậy thôi. Nó giả. Nó tạm. Vậy mà sao ta cứ tưởng thiệt mới đáng thương làm sao. Gieo rắc và sinh sôi. Cứ vậy. Như Lai thọ lượng. Như Lai thần lực. Cứ vậy. Người tỏ ngộ tủm tỉm cười, vui vẻ chui vào tháp báu, gặp Như Lai Đa Bảo của mình ngồi đó, tay bắt mặt mừng. Schopenhauer nói cô con gái liếc mắt đưa tình, tìm kiếm chàng trai râu hùm hàm én mày ngài, oai vũ là để trao thân vì chắc hẳn sẽ là giống tốt; chàng trai thì tìm giai nhân chân dài, đáy thắt lưng ong, ngực nở, mông to để mắn đẻ. Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống là vậy. Con người thông minh hiện đạilàm phiền Như Lai hết sức, vì chỉ muốn tìm vui mà quên nhiệm vụ thiêng liêng!


Đất (Nitrogen) nước (Hydrogen) gió (Oxygen) lửa (Carbon) cùng 62 nguyên tố đồng chì sắt kẽm được vo cục lại, nắn nót, thêm thắt, vẽ bày, hà hơi tiếp sức rồi thảy vào Ta-bà nhộn nhạo theo một cái duyên, cái nghiệp nào đó. Mãi mới nhận ra “bổn lai vô nhất vật”. À há, nó là không, nó là chân không diệu hữu. Nó bày trò, vờ vịt, vớ vẩn, giỡn chơi thôi. Không muốn ngộ rồi cũng ngộ. Không muốn giác rồi cũng giác.


Sanh bệnh lão tử hay sanh lão bệnh tử thì cũng vậy. Lập trình nó vậy rồi. Nhưng “tử” dễ nghe hơn “chết”. Chết khó nghe và thấy sợ. Tại sao sợ? Không biết. Tại vì không biết cho nên sợ. Nhưng lạ, cũng là chết mà có nhiều từ khác nhau để gọi. Vua chết gọi là “băng hà”. Sư chết gọi là “viên tịch”. Phật chết gọi là nhập Niết-bàn. Lính chết gọi là “hy sinh”… Dân chết có khi gọi là “mất” là “qua đời” là “lìa trần”, v.v…


Người ta sợ chết mà không sợ sanh. Vì sanh có biết đâu mà sợ. Nhưng có phải tự nhiên mà sanh ra không? Nếu ba mẹ ta mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Nếu ông bà nội ông bà ngoại mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Vậy ta từ đâu ra? Có phải chỉ tinh cha huyết mẹ là đủ hay còn cần phải có một điều kiện nào khác? Có cái gì khác đó chui vào, can thiệp vào để có ta chứ? Cái đó gọi là “thức tái sanh” ư? Là “nghiệp” dẫn dắt ư? Chính điều nầy làm ta thấy có trách nhiệm sống, vì sống cũng chỉ là một giai đoạn tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Ta có trách nhiệm hơn. Ta có tự do hơn. Để tự chọn lựa.


Một cặp thai song sanh sợ hãi khi sắp tới ngày sanh, muốn ở lại trong thiên đàng lòng mẹ càng lâu càng tốt. Hai cái thai tranh cãi quyết liệt không ai chịu ra đời trước, vì không biết chuyện gì chờ đón họ ngoài kia. Cuối cùng dù giằng co thế nào thì cũng có một cái thai chui ra trước. Hóa ra… đời vui quá! Người ta đón chào rôm rả. Thai kia thấy thế cũng vội vã ra theo. Rồi oa oa chào đời. Rồi hít thở, rồi bú mớm. Rồi lớn như thổi, rồi yêu thương, rồi ganh tỵ, hờn ghen, đấu đá, giành giật… rồi cuối cùng cả hai cùng một lần nữa lại bị kéo ra… khỏi cuộc đời. Cũng lại quyết liệt tranh cãi không chịu, cũng lo lắng, sợ hãi, đòi ở lại càng lâu càng tốt… Không có sự khác biệt giữa cái chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc của mình, và cái chết của một người ăn mày, bỏ lại cây gậy.


Rồi cùng mà mỉm cười. Nụ cười của Phật. Của Bayon. Của La Joconde…


Đỗ Hồng Ngọc


 

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on August 07, 2019 01:19

August 3, 2019

Tuệ Sỹ: PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH (viết từ cảm hứng “Cõi Phật Đâu Xa” của ĐHN)

 


Thư Đỗ Hồng Ngọc kính gởi Thầy Tuệ Sỹ


Vườn Chuối, 21.7.2019


Mới thôi mà đã hơn 2 năm, từ ngày Thầy gởi tôi bài  PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH “viêt từ cảm hứng Cõi Phật Đâu Xa của Đỗ Hồng Ngọc” và bảo để in vào sách khi tái bản.


Vừa rồi, máy vi tính của tôi bị hỏng toàn bộ ổ cứng, mất hết các dữ liệu. May sao người cháu “cứu” được một ít trong đó giữ lại được bản này. Tôi đọc lại mà rưng rứt, nhớ Tết nào cùng Thân Trọng Minh đến thăm thầy ở Thư quán Hương Tích, trò chuyện thật vui, đặc biệt về vở “nhạc kịch Duy-ma-cật”  vốn đầy kịch tính, từ những nhân vật “phản diện” cho đến bối cảnh, với những cao trào có thể mang tính nghệ thuật cao, với vai “Người dẫn truyện” của Văn Thù, vai Thiên nữ tán hoa cùng tiếng đàn hát dìu dặt, thanh thoát…


Tôi hiểu từ lâu thầy đã ấp ủ “kịch bản” này đâu đó sẵn rồi. Thân Trọng Minh và tôi chỉ đóng góp thêm vài ba ý cho thêm phần “hấp dẫn”. Thầy biết đó, Thân Trọng Minh vốn là người viết kịch! Cao Huy Thuần bên trời Tây nghe được cũng hết lòng ủng hộ và nói sẵn sàng sắm một vai…


Tôi nay đã 80 tuổi, già nhanh rồi, mà vừa trải qua những ngày không vui vì mất hết dữ liệu trong ổ cứng máy tính. Nhờ người cháu tậu cho cái ổ cứng mới nên nay vội viết thư này xin phép thầy hoan hỉ cho phép tôi đưa bài “Phương nào cõi tịnh” lên dohongngoc.com. Đây là trang web của riêng tôi, chỉ nhằm lưu trữ bài vở, và cũng in ra giấy để giữ.


Vừa rồi tôi nóng ruột, đã thử phone thầy và nhắn tin xin phép, mới hay Thầy và cả thầy Hạnh Viên đều đang nhập thất mùa An Cư Kiết Hạ.


Tôi hoàn toàn đồng ý với thầy:


“trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn”…


Mong Thầy hoan hỷ nhấp một chung trà lão Triệu, với nụ cười rất tuệ sỹ vậy nhe.


Thân kính,


Đỗ Hồng Ngọc.


Đỗ Hồng Ngọc, Thân Trọng Minh và Thầy Tuệ Sỹ (Thư quán Hương Tích).


………………………………………………………………………………..


 


 


PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH


Tuệ Sỹ


(viêt từ cảm hứng “Cõi Phật Đâu Xa” của Đỗ Hồng Ngọc)


 


 



 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 



 



 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


Ta hỏi kiến nơi nào Cõi Tịnh,


Ngoài hư không có dấu chim bay?


Từ tiếng gọi màu đêm đất khổ,


Thắp tâm tư thay ánh mặt trời.


 


Lần đầu tiên tôi tình cờ gặp bản dịch Duy-ma-cật sở thuyết của ngài Huệ Hưng; hành tung ly kỳ và chuổi lý luận của Duy-ma-cật khiến đọc say mê, nhiều đoạn học thuộc lòng. Có thể không “choáng ngợp” như anh Cao Huy Thuần vì trình dộ nhận thức của tôi bấy giờ chỉ là của một cậu bé 14 tuổi, không thể sâu sắc như  vị giáo sư trẻ tốt nghiệp Đại học Luật khoa Huế. Một chú tiểu tu chùa Việt nhưng học kinh điển theo hệ Theravāda với các Sư người Lào, do đó cực kỳ kính trọng các A-la-hán, và vì vậy không có cảm giác Duy-ma-cật đã có thể triệt hạ địa vị các Đại Thanh văn. Lớn lên chút nữa, qua nhiều năm học thêm nhiều kinh luận Đại thừa, đọc thêm các nhà luận giải Trung hoa chê bai tư tưởng các vị Thanh văn thấp kêm, tâm tư nhỏ hẹp, và kêt án khá nặng là “hạng tiêu nha bại chủng”, hủy diệt mọi thứ mầm non và hạt giống tốt của giác ngộ.


Cùng với sự phát triển của loại “khẩu đầu Thiền”, thuyết lý Thiền tông trên đầu môi chót lưỡi, phát sinh một lớp sư tăng “cuồng thiền”: thỏng tay vào chợ, thanh lâu, hý viện, đâu chẳng là thanh tịnh đạo tràng. Nhưng với sự huân tập từ hồi còn là tiểu nhóc, tôi chưa hề cảm thấy, mặc dầu với lý luận biện tài vô ngại, Duy-ma-cật đã lấn lướt vượt qua các vị Thanh văn như thế nào. Tuy nhiều vị luận giải Trung hoa quả có chế diễu ngài Xá-lợi-phất, và nhiều vị Đại Thanh văn khác nữa, như khi ngài hỏi Duy-ma-cật các Thánh giả sẽ ăn cơm ở đâu, sẽ ngồi chỗ nào; dù vậy, tôi vẫn cảm thấy trong đó có ẩn ngữ mình chưa hiểu.


Cho tới một lúc, lớn thêm chút nữa, giữa xã hội xô bồ đảo điên, tăng đồ như một cộng đồng ô hợp, riêng Phật riêng thầy, riêng tông môn pháp phái, bấy giờ bỗng xuất hiện những cư sỹ lão thành cự phách, mà trình độ thâm hiểu giáo lý không nhường các bậc trưởng lão trong sơn môn. Bên trong, hiểu và hành sâu xa nội điển; bên ngoài nhạy bén trước các biến cố đảo điên của xã hội; hiểu đạo sâu mà hiểu đời rộng, tài và trí ấy, hiểu và hành ấy, đã góp phần rất lớn trong những đoạn đường khơi lạc nguồn mạch tư duy.


Không chỉ một Duy-ma-cật, mà có rất nhiều Duy-ma-cật, khoác nhiều hành trạng khác nhau trong nhiều địa vị xã hội khác nhau, đã từng xuất hiện ở đây, sống giữa chúng ta. Họ lăn lóc trong bụi đời, nếm đủ thứ “mùi tục lụy” nhưng vẫn không ngừng vươn lên theo chiều cao của Đạo Pháp. Trong một thời đại mà không còn tìm thấy thấp thoáng bóng dáng của Duy-ma-cật, Phật pháp đạo lý có thể chỉ như món hàng trong siêu thị; có lúc chỉ như gánh hàng rong trên hè phố.


Duy-ma-cật là ai mà được ví von như thế? Một nhân vật nửa lịch sử, nửa huyền thoại. Nhân cách ấy là tập hợp tất cả phẩm tính để được gọi là “đích tử”, con chân thật, của các đấng Giác Ngộ. Mỗi nhân cách nổi lên trong một thời đại lịch sử riêng biệt, trong mỗi thời đại ấy là những nhân cách từ phẩm chất và phẩm trật trong từng xã hội cá biệt. Nhân cách ấy ẩn mình đơn độc trong rừng sâu, hoặc hiện diện giữa chợ đời huyên náo, mà không gian bao trùm bởi trực tâm và thâm tâm. Trực tâm, mà Huyền Trang gọi là “thuần ý lạc (āśaya)”, đó chính là ý chí hướng thượng, nhìn đời bằng con mắt yêu thương, định hướng cho cuộc đời của mình và cùng với tất cả cùng đi lên bằng tình yêu và trí tuệ. Từ trực tâm ấy, với ý chí quyết định, kiên trì mục đích, đó gọi là thâm tâm, cũng nói là tăng thượng ý lạc (adhy-āśaya). Đó là nhân vật mà ta có thể gặp đâu đó.


Bằng thuần ý lạc địa, từ cơ sở đó mà bảy bước phát khởi tâm bồ đề, khởi từ tình yêu thâm thiết đối với Mẹ thân sinh, vì sự an lạc của Mẹ mà phát nguyện hành bồ-đề. Rồi với tình Mẹ bao la mà tâm nguyện bồ-đề cũng theo đó mà rộng lớn lên, theo một đường thẳng như tấm lòng ngay thẳng. Từ tâm tư thuần ý lạc địa ấy mà kiên định chí hướng, in sâu trong tận cũng tâm khảm, trong thâm tâm.


Thế nhưng có thể chúng ta dễ bị choáng ngợp bởi những từ ngữ mang tính triết học, do đó mà thấy Duy-ma-cật là một nhân vật cao diệu, xa vời. Vậy, chúng ta bắt đầu từ diễn tả bằng ngôn ngữ đời thường, như Đỗ Hồng Ngọc viết trong Cõi Phật Đâu Xa: anh viêt Kinh dễ dàng và cũng rất thận trọng cân nhắc, y như bác sỹ viết toa thuốc:


“Lòng ngay thẳng – trực tâm – chính là sự bình đẳng, không phân biệt, không kỳ thị … Không kỳ thị, không phân biệt đối xử mới có lòng tôn trọng như Thường Bất Khinh, mới có lòng Từ bi, Thấu cảm như Quán Thế Âm, mới có lòng Chân thành để “ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng” như Dược Vương. Tôn trọng, chân thành, thấu cảm phải dựa trên điều kiện tiên quyết không phân biệt, là Bình đẳng. Đó chính là Bất nhị.”


Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa cũng sợ; chúng ta lại gặp một từ ngữ triết học rắc rối hơn nữa: “bất nhị.” Đó là nguyên lý chỉ đạo cho tư duy và hành động của Duy-ma-cật, khi ông nói với ngài Xá-lợi-phất: “Hiện các oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) mà vẫn không xuất tưởng thọ diệt định, đó mới chính là tĩnh tọa.” Hoặc khi ông chào đón Bồ-tát Văn-thù đến thăm bệnh, và ở đó, trong “Cõi Phật Đâu Xa”,  ta cũng nghe rõ như lời bệnh nhân chào đón y sỹ: “Lành thay, Văn-thù mới đến! Tướng chẳng đến mà đến. Tướng chẳng thấy mà thấy.” Bệnh chứng, bệnh nguyên, tất cả các tướng ấy, chẳng đến mà đến, chẳng thấy mà thấy; bệnh nhân không tìm đến y sỹ, và y sỹ không đi đến bệnh nhân.


Trong đối thoại này, Duy-ma-cật cũng chào đón Văn-thù bằng ngôn ngữ thông thường: svāgatam: nghĩa đen được hiểu đã đến một cách khéo léo, tốt đẹp; đây là một từ chào hỏi tương đương chính xác với lời chào tiếng Anh: “Welcom!” Từ chào hỏi này liên hệ đến từ Tathāgata: Như Lai, mà Kinh Kim cang định nghĩa: “Như Lai, vị khéo đến, vì không từ đâu đến, cũng không đi đến đâu.”  Nó cũng liên hệ các từ  Phạn gata, āgata, anāgata: đã đi, đã đến, không đến, chưa đến, đó là những từ mà chúng ta đọc hằng ngày trong Tâm Kinh: gate gate paragate parasaṃgate bodhi svāha. Đến mà không đến, đi mà không đi, là thể tính Như Lai: Tathāgata: tathā gata/āgata. Các vị Thánh giả chào nhau bằng ngôn ngữ đời thường mà trong đó vẫn bao hàm thế giới siêu việt.


Nhưng, tư tưởng bất nhị là căn nguyên tư tưởng của một nhánh trong triết học Vedānta, tiếng Phạn nói là advaita-vāda, dịch theo ngôn ngữ triết học quen dùng ngày nay, đó là chủ thuyết lý “Nhất nguyên Tuyệt đối”. Đạt đến nhất nguyên tuyệt đối, là đạt đến giải thoát, bấy giờ Phạm-Ngã đồng nhất, Tiểu ngã và Đại Ngã hiệp thành nhất thể tuyệt đối. Nói cách khác, Linh hồn và Thượng đế là Nhất thể Tuyệt đối. Kinh Phật không nhận có Thật Ngã tồn tại, dó đó không thừa nhận thuyết Nhất nguyên tuyệt đối này.


Để khỏi phái bối rối, choáng ngợp trước những từ ngữ và lý luận biện chứng siêu nghiệm, từ nhất nguyên tuyệt đối của Phạm-Ngã nhất thể, cho đến “Như Lai đến mà không đến, đi mà không đi”, chúng ta cũng có thể bắt đầu với nhận thức đơn giản hơn từ dẫn giải bởi Đỗ Hồng Ngọc, hiểu theo cách y sỹ chẩn đoán bệnh:


“Ở tại nơi sanh tử mà chẳng làm việc ô trược, trụ nơi Niết-bàn mà chẳng diệt độ mãi; hành tánh không mà vẫn trồng các cội công đức; hành vô tướng mà vẫn độ chúng sanh; hành vô khởi mà khởi tất cả thiện hạnh…”


Đây là đoạn dẫn tóm tắt khi Duy-ma-cật nói với Văn-thù về sở hành cảnh giới của Bồ-tát, môi trường hành đạo và đối tượng quán sát của Bồ-tát; trong đó nói hành tánh không (śūnyatā-gocara), hành vô tướng (animitta-gocara), là hai trong ba giải thoát môn mà một vị Thanh văn lập làm đối tượng quán sát để chứng nghiệm Niết-bàn. Ba giải thoát này là Không, Vô tướng, Vô nguyện (apraṇihita), hay nói là  Vô tác theo La-thập.  Chưa thấy và chưa biết Niết-bàn là gì thì chớ vội nói sinh tử và Niết-bàn là một, không hai. Thế nhưng, đây là những lời người bệnh nói với người thăm bệnh. Bệnh hay vô bệnh, sinh tử hay Niết-bàn, đây và đó qua lại trong ba ngõ: người bệnh vốn không, hiện tượng bệnh cũng không, cho nên không có gì để nói hy vọng hay tuyết vọng.


Những điều như vậy cũng không phải dễ hiểu; do đó chúng ta nên nghe lời dẫn từ Cõi Phật Đâu xa:


“Bồ-tát luôn đứng giữa hai bờ…” và tại đây ông giới thiệu lời trong ca khúc của Trịnh Công Sơn: trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyêt/ Rọi suốt trăm năm một cõi đi về. Nếu đưa thẳng vào tư duy triết học thì lời nhạc của Trịnh Công Sơn không liên hệ gì đến pháp môn bất nhị. Nhưng nó cũng khiến chúng ta nhớ đến câu chuyện một nhạc công của Thiên đế Indra thất tình với một thiên nữ, bèn tìm đến đức Phât, hát lên “bản tình ca dâng Phật”, với đoạn tả tình thắm thiết: “Tôi yêu nàng như A-la-hán yêu Chánh Pháp”. Có lẽ chẳng có ca từ mô tả tình yêu chung thủy nào chân tình hơn thế. Lời nhạc đã lạ lùng với đôi tai người đọc kinh Phật nghiêm túc, mà câu trả lời của Phât cũng thất lạ lùng khó hiểu: “Hay lắm, nhạc hòa hợp với lời, lời hòa hợp với nhạc; trong đó có ái dục mà cũng có Niết-bàn,” Ái dục là tình yêu hệ lụy sắc dục, và Niết-bàn là cảnh giới ly dục. Há lại có nghĩa, từ trong ái dục mà thấy Niết-bàn, từ Niết-bàn mà thấy rõ thể tính của ái dục? Đơn giản hơn, từ bùn lầy hôi thối mà tìm thấy hoa sen?


Rốt cục, cửa dẫn vào pháp bất nhị này là đâu, là cái gì?


Chuyện tình nhạc công của Thiên đế diễn thành kịch bản để nói những điều không thể nói, vì tính chẩt phản diện được cấu trúc trong đó. Cũng thế đó, người đọc Duy-ma-cật sở thuyết có thể dễ dàng nhận ra bản văn này được cấu trúc theo thể loại kịch. Trong kịch bản, tính phản diện của các nhân vật được sử dụng để diễn tả nội dung theo ý nghĩa muốn nói.


Trong đoạn dẫn của Đỗ Hống Ngọc nêu trên, chúng ta thấy Bồ-tát tu tâm như một Thánh giả Thanh văn xuất thế, nhưng hành đạo như một phàm phu trong sinh tử: trong bùn mà chằng hôi tanh mùi bùn. Đó là căn bản của tư duy bất nhị. Thánh nhân xuất thế, và phàm phu sinh tử, hai mặt phàn diện mà lại đồng nhất thể tính. Người đọc nếu không nhìn ra những cặp phản diện trong Sở thuyết này tất sẽ thấy Duy-cật-đã đã “lấn lướt” các Thánh giả Thanh văn, đã “dồn ví” các ngài vào ngõ bí.


Trong kịch bản Duy-ma-cật sở thuyết, người ta nghe được những đối đáp tương xứng giữa Văn-thù và Duy-ma-cật, nhưng đây không phải là cặp nhân vật phản diện; mà trong đây Văn-thù chính là vai người dẫn kịch. Không có người dẫn kịch thì khó có thể hiểu nội dung của kịch bản. Đây là cấu trúc cổ điển của kịch. Như trong khi Văn-thù nói và hỏi, Duy-ma-cật im lặng; nếu không có Văn-thù như là vị dẫn kịch, thì sự im lăng của Duy-ma-cật chẳng có ý nghĩa gì; do đó đây không phải là cặp đối đáp phản diện.


Thực ra, Duy-ma-cật xuất hiện trong nhiều lớp áo khác nhau, nên đồng thời thủ vai phản diện cho nhiều vị Thánh giả, từ các A-la-hán cho đến các Bồ-tát. Khi ngài Xá-lợi-phất tĩnh tọa trong rừng vắng, Duy-ma-cật xuất hiện với lý luận sắc bén khiến cho vị Đại Thanh văn này không còn lời đối đáp. Dễ chừng người ta chỉ thấy một Tôn giả Xá-lợi-phất trong rừng vắng nhập tưởng thọ diệt tận định, thân tâm bất động, có thể lưu thọ hành để giữ cho thân thể tồn tại không mục rã qua một đại kiếp, hằng triệu năm của mặt trời; ấy thế nhưng lại không thấy ngài ôm bát lang thang trong hang cùng ngõ hẻm với cái bụng đói. Nếu để thọ hưởng an lạc tịch tĩnh chính mình qua hằng nghìn năm cho đến khi thân ấy mục rã nếu muôn, thế thì cần gì phải ăn để mà sống. Vậy ôm bát đi khất thực vì lẽ gì?  Vì cơn đói sẽ hành hạ bản thân, hay vì để thức tỉnh thế gian đang trầm luân trong khổ lụy? Thế thì Duy-ma-cật đi vào đời để xây dựng cho đời an vui có cao quý hơn ngài Xá-lợi-phất ngồi trong tịch nhiên bất động? Phải chăng tượng Phật ngồi bất động trên bàn chẳng ích lợi gì cho ai, chẳng bằng sư trụ trì tụng kinh cầu siêu, cầu an cho bá tánh? Đấy là cặp phản diện làm hiện rõ bản chất của tồn tại.


Mặt khác, trong phong thái Thánh giả xuất trần Xá-lợi-phất lại xuất hiện trước một phản diện là cô thiên nữ cực kỳ diễm lệ. Với sắc đẹp vượt lên cả hàng thiên hương quốc sắc ây, với vũ điệu thiên nữ tán hoa kỳ ảo hơn cả vũ khúc nghê thường ấy, cũng rất dễ khiến cho Đường Mimh Hoàng mất ngôi mất nước. Nhưng sao nàng sống chung trong một căn phòng trống trải với lão cư sỹ Duy-ma-cật; rồi lại xuất hiện múa hát trước các Thánh nhân xuất thế, những vị mà tâm tư lắng đọng không hề gợn sóng dục tình; hiện diện với ý nghĩa gì? Đối đáp giữa thiên nữ và Xá-lợi-phất đã dẫn cặp phản diện ô nhiễm và thanh tịnh lên đến kịch tính gay cấn, khiến cho Xá-lợi-phất biến hình thành thiên nữ kiều diễm, và thiên nữ biến hình thành Thánh giả Xá-lợi-phất nghiêm trang.


Nhận diện được những cặp nhân vật phản diện trong Kinh thì cũng có thể bằng hình ảnh ấy mà chiêm nghiệm thế nào là ý nghĩa bất nhị, bằng cánh cửa nào để đi vào cảnh giới bất nhị ấy.


Thêm nữa, ngoài những nhân vật phản diện, cũng nên đi sâu vào những bối cảnh phản diện. Khu vườn xoài, sở hữu của kỹ nữ Am-la-bà-lị, nơi các vương tôn công tử buông mình thả trôi trong dục vọng, lại trở thành nơi tịnh tu của các Thanh văn xuất thế, trong ô nhiễm mà không ô nhiễm. Tư gia của Duy-ma-cật, nơi ông tiếp những chính khách đang lao mình trong đấu trường quyền lực, những thương gia đang cạnh tranh ráo riết trên thương trường, mhưng chỗ ấy lại cũng là nơi lai vãng của các Thánh giả xuất trần, Thanh văn và Bồ tát. Tư gia của trưởng giả Duy-ma-cật, khu vườn xoài của kỹ nữ Am-la-bà-lị: cặp phản diện của náo nhiệt và tịch tĩnh, của ô nhiễm và thanh tịnh.


Giữa thế giới Ta-bà và cõi Phật Chúng Hương, tòa sư tử và thành Tì-la-da, cái vô cùng lớn đến trong cái vô cùng nhỏ, và cái nhỏ đi vào trong cái lớn: đây cũng là cặp phản diện bối cảnh làm lộ rõ thể tính tồn tại của thế gian, vũ trụ. Bằng hình ảnh đó mà tập luyện cho tư duy vượt ngoài khuôn sáo ước lệ, vượt qua thế giới thường nghiệm để vươn lên cảnh giới siêu nghiệm, bất khả tư nghị.


Như thế, đọc Duy-ma-cật sở thuyết như đang xem một kịch bản, với những nhân vật và bối cảnh phản diện, với những biến cố mang đầy kịch tính, đó là cách tự huấn luyện và tự trang bị cho mình một công cụ định hướng tự duy để vươn lên chiều cao của giác ngộ.


Trong khi chúng tôi cùng tìm hiểu ý nghĩa phản diện và kịch tính trong Duy-ma-cật sở thuyết, hai ông bạn cư sỹ Đỗ Hồng Ngọc và Thân Trong Minh tỏ ra tâm đắc và cao hứng, cố ý muốn viết lại một kịch bản và dàn dựng sân khấu như thế nào đó để có thể hiểu rõ hơn điều mà Kinh muốn chỉ điểm; vì trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn.


Hy vọng các bạn cư sỹ thành tựu như ý. Riêng tôi, trở về thảo am thơ thẩn, gởi lại hai bạn cư sỹ hai câu thơ:


Nhà tranh mái cũ quen chừng,


Chén trà lão Triệu mà chưng hoa ngàn.


 


Thị ngạn am, tiết Lập xuân, Đinh dậu


Tuệ Sỹ


(3.2017)


 


 


 


 

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on August 03, 2019 04:26

Đỗ Hồng Ngọc's Blog

Đỗ Hồng Ngọc
Đỗ Hồng Ngọc isn't a Goodreads Author (yet), but they do have a blog, so here are some recent posts imported from their feed.
Follow Đỗ Hồng Ngọc's blog with rss.