Đỗ Hồng Ngọc's Blog, page 44

February 17, 2020

Trần Hoài Thư: Thư gởi Đỗ Nghê

 


blog trần hoài thư


Thư gởi bạn ĐN


February 17, 2020 by tranhoaithu


Bạn của một thời trôi nổi khó quên,


Tôi vừa nhận được “Biết Ơn Mình” bạn tặng do PVN chuyển. Cầm tập sách vuông vức, mỏng, với cái bìa chữ  nổi, bông nổi, trước hết là cảm xúc dâng tràn.


Tôi tự hỏi, từ trước đến giờ có một tác giả nào viết những lời biết ơn về “mình”  như bạn.  Từ trang  đầu đến trang cuối  bạn “biết ơn mình” nhưng thật sự bạn đã truyền cảm đến người đọc những kinh nghiệm, kiến thức, những lời khuyên hữu ích cho độc giả  của một y sỹ  qua tâm hồn lai láng của một nhà thơ.

Để người đọc thấy rõ về chính bản thân mình, thân thể mình mà càng yêu càng quí.


Gần 5 năm chăm sóc Y. ở nursing home, tôi càng hiểu về sự may mắn của một con người còn lành lặn tay chân, trí não… Những người bị Alzeimer, loạn trí. Những người bị stroke, không thể đi đứng, phải ngồi xe lăn,,, Có những người còn trẻ mà phải năm liệt giường… Nhìn họ, rồi nhìn mình, rồi dâng bao nhiêu niềm cảm tạ. Cảm tạ khi buổi sáng thức dậy, tung mền, thấy đôi chân vẫn còn mạnh. Cảm tạ khi mỗi ngày được nấu nướng, đi chợ, nấu thức ăn để mang vào nursing home . Thấy những người tàn phế ngồi xe lăn, thấy những người bị Alzeimer, thấy những người còn trẻ nhưng liệt bại… Lại càng cảm tạ cái xe mình.


Nhưng ngoài “Biết ơn mình”, với tôi cần phải cám ơn một cái gì khác. Nó là sợi dây kết nối lại giữa bạn và tôi.

Đó là văn chương.


Vâng, nếu không có văn chương thì chắc chắn đến bây giờ, tôi không bao giờ nhận  được món quà văn chương đầy tình nghĩa như thế này.


THT

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on February 17, 2020 06:16

February 16, 2020

vài trang bạn bè

trang Pham Cao Hoàng:



 


trang tranthinguyetmai



 


Cảm ơn PCH, cảm ơn Nguyet Mai.


Do Hong Ngoc.

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on February 16, 2020 00:23

February 9, 2020

thơ Hoàng Xuân Sơn: M Ộ T  N G À Y  B Ã O  T U Y Ế T  K I N H  H Ồ N

 


 


M Ộ T  N G À Y  B Ã O  T U Y Ế T  K I N H  H Ồ N


[ Thứ sáu, 7 février 2020 ]


NgỐt  tRời  ĐấT.   nGốT  NgƯời


T U Y Ế T


Tuyết đến thế là cùng


dăm ba ngày đóng cửa


tạ lòng bạn viếng thăm


mùa đông như sợi chỉ


giăng mắc đến muôn trùng


ngồi buồn châm ngọn lửa


đốt những vòng hư không


Đ Ư Ờ N G   B A Y   C Ủ A   T U YẾ T


nắng vùng lên. băng hủy tang

cây run rẫy đứng sắp hàng đón xuân

cảnh đời nhau dễ chưa thuần

vẫn ghê cái lạnh tà huân ngút trời

vẫn trắng hồn. bông tuyết ơi

vẫn ngóc ngách gió bời rời. căm căm

mà dâu kia cứ hẹn tằm

vẫn thơ hết một mùa thăm thẳm dài

bây giờ. buồn nhỉ. hai vai

trơn tru một gánh sông hồi biển mong

vẫn là em. độ xuân nồng

mà trong hương nhớ đã mông lung thèm

nhớ ngày nào tay dịu êm

và lời mật ngọt rót mềm môi say

vẫn là tôi. tín hiệu gầy

trăm năm để một giờ bay. tuyệt mù


 


T  h Ô N g    .    TuYẾ t    .   Và    n GƯờI


mũi cây thông nhọn đâm lú tuyết


đường lên dốc thẳm sói kêu tru


một hôm lạc qua vùng cực bắc


mắt dã quầng thâm bôi trắng mù


 


 


đời vẫn ở phố lưng xương khọm


đường sá mòn năm cứ già đi


bàn ghế điệp khúc tình nhân muộn


tựa mãi vào đâu cũng gối quỳ


 


 


thông vẫn tốt tươi màu đông quạnh


tuổi người ra rả giú thâm xuyên


thèm quá chú sóc con ngồi đợi


lạnh tàn mơn mởn nhú xuân lên


 


 


dẫu gì sinh thực hàm ơn tuyết


từ đáy trầm luân khíu lại đời*


năm tháng vập vồ qua thiên khải


chập choạng vai chiều một cánh dơi


 


Hoàng Xuân Sơn


 

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on February 09, 2020 21:16

Thanhthuy Nguyen: “Chiều hôm thức dậy…” (*)

Thanhthuy Nguyen

13 giờ ·












“Chiều hôm thức dậy

Ngồi ôm tóc dài

Chập chờn lau trắng trên tay”

TCS


Những ngày dài nằm nhà vì dịch corona, không gì bằng dọn lại chồng sách cũ, lên kế hoạch đọc sách mà bao lâu nay vì bận bịu cứ lần lữa mãi.


Những tập sách mỏng của BS. Đỗ Hồng Ngọc nằm khiêm tốn trên giá sách với những lời đề từ cách đây hơn 6 năm, tôi đọc một mạch một ngày trời đã hết.

Từ tập thơ đầu tiên với tựa đề “Tình người” bút hiệu Đỗ Nghê, tác giả trình bày, bìa Lữ Kiều, hình cocteau, ấn hành giới hạn dành cho bạn bè anh em, Sài Gòn năm 67 đến những bài viết dành cho những người bước qua tuổi trung niên, với cái nhìn chân thực khoa học của một bác sĩ ngành y, hóm hỉnh, dí dỏm, làm người đọc thỉnh thoảng phải bật cười vì thấy mình ở đó “Những người trẻ lạ lùng”, “Gió heo may đã về”, “Nghĩ từ trái tim” là những bài viết như vậy, năm 2013 ông xuất bản tập thơ “Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác” tập hợp một chặng đường dài nữa thế kỷ làm thơ của ông, đó là một gia tài khiêm tốn của BS. Đỗ Hồng Ngọc, một con người đôn hậu, khiêm cung và nghiêm túc.

Gia tài khiêm tốn, nhưng sức chứa trong từng tác phẩm lại đáng cho ta kính nể.


Từ bài thơ “Thư cho bé sơ sinh” ông viết khi là một sinh viên trường Y 25 tuổi, chuyên khoa Nhi. Lần đầu tiên ông trực tiếp đỡ đẻ một đứa bé ra đời, nó gây cho ông một xúc động mạnh, đến nỗi không kìm chế sự thôi thúc của tâm hồn ông đã viết những vần thơ phía sau bệnh án. Lời thơ chân thực rúng động từ trái tim của một thanh niên có cái nhìn tinh tế, nhân ái và sâu sắc về thân phận làm người trong một đất nước điêu linh vì chiến tranh:


Khi em cất tiếng khóc chào đời

Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười

Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc

Trong cùng một cảnh ngộ nghe em!

Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu

Nói là để ngừa đau mắt

Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực

Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen.

Khi anh cắt rún cho em

Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé

Vì từ nay em đã phải cô đơn

Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ.



Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh

Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa

Một ngày đã thức giấc với vội vàng với hoang mang

Với những danh từ đao to búa lớn

Để bịp lừa để đổ máu đó em…

Thôi trân trọng chào em

Mời em nhập cuộc

Chúng mình cùng chung

Số phận…

Con người…

( BV Từ Dũ, Saigon,1965)


Xuyên suốt tập thơ “Tình người” xuất bản năm 67, người đọc dễ dàng bắt gặp những trăn trở, thao thức của một chàng trai trong một xã hội loạn lạc chiến tranh với những ước mơ, lời nguyện cầu, niềm tin, tâm sự Lạc Long Quân, lời ru của mẹ, Mai sau dù có bao giờ… bẵng đi một thời gian dài vì thời cuộc, bận bịu với vai trò một bác sĩ ông chuyên tâm vào chuyên môn, không làm thơ nữa, thời gian sau này ông viết lại với những vần thơ nói về quê hương đất nước, ghi lại những cảm xúc nơi chốn ông đi qua như Mũi Né, Trên đỉnh Hoài Phong, Đêm trên biển Lagi, Bảo Lộc, Đà lạt, Hà Tiên, Hội An đêm, Một ngày ở Huế, Hành hương hay Paris tháng sáu, Lục địa giận hờn, Trong một nhà giữ lão ở Montreal, Đông Boston, những bài thơ ông viết bao giờ cũng là những trăn trở của kiếp người.


Có những bài mang mang chất thiền như:

Hội An còn ngái ngủ

Mái chùa ôm vầng trăng

Giật mình nghe tiếng chổi

Gà gáy vàng trong sương

(Hội An sớm)


Có những bài đẹp như tranh thủy mạc, cô động, súc tích như thơ haiku:

Ngõ cũ

Ao xưa

Vầng trăng bạc

Lầu văn

Gác tía

Bước chân son

(Văn Miếu)


Và không thể không nhắc đến mảng thơ ông làm tặng con gái đã mất của ông, với nỗi lòng của người làm cha, làm quặn thắt trái tim người đọc.

Có tiếng thét lên

“Dừng lại”

Con dịu dàng trong mộ tối bước ra

Phủi bụi

Nhìn mọi người chưa kịp lau nước mắt

Mỉm cười

Ơi ba má với các bác các cô các chú ơi

Bà nội với các em ơi

Bạn bè ơi

Sao mà giỏi thế

Cứ đóng y như thật…

( Đạo diễn)

Ba viết trăm lần lý lịch

Cứ mỗi lần viết đến tên con

Ba lại ngẩn ngơ

Như một kẻ mất hồn

Biết trả lời sao

Câu hỏi

Hiện con đang làm gì?

Ở đâu?

(La Ngà 2)

Mỗi năm

Mỗi người

Thêm một tuổi

Chỉ mình con

Mãi mãi

Tuổi đôi mươi…

(La Ngà 3)


Đôn hậu, nghiêm túc là con người của BS. Đỗ Hồng Ngọc mà bất cứ ai đã được dịp tiếp xúc đều nhận ra ngay, trãi qua bao thăng trầm của đời người ông thấm nhuần Thiền Phật, những bài ông viết cho giới trẻ, cho tuổi trung niên là những nhắn nhủ của một người làm chuyên môn cho lời khuyên xác đáng để con người biết sống nhẹ nhàng hơn khi đối diện với tuổi xế chiều.


Tôi muốn kết thúc bài viết này bằng một bài thơ ông viết tặng mẹ, một con người hiền lương, thánh thiện trong cuộc đời và trong cả thơ văn:

Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông…

(Bông hồng tặng Mẹ)


Quy Nhơn, 9/2/2020


(Ban Mai)







[image error]
[image error]
…………………………………………………………………………………..
(*) tựa do ĐHN. Bài viết của Thanhthuy Nguyen (Ban Mai) trên facebook này do Nguyễn Lệ Uyên chuyển đến tôi sáng nay vì biết tôi không có Facebook không đọc được. Cảm ơn NLU. Cảm ơn BM.
 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on February 09, 2020 16:37

February 2, 2020

Trần Vấn Lệ gởi Luân Hoán

 


Trần Vấn Lệ gởi Luân Hoán


kể chuyện về Đỗ Hồng Ngọc


(Ghi chú: Sáng nay mới nhận được bài này của Trần Vấn Lệ. Bài TVL viết cho website Vuông Chiếu của Luân Hoán, nhắc chuyện gặp Đỗ Hồng Ngọc ở Saigon… Bài hơi… cũ (2018) nhưng vẫn còn… hay! Đọc TVL vẫn luôn thấy được cái duyên ngầm của anh (mà Khuất Đẩu cũng đã phải khen khi TVL viết về Thơ Đỗ Nghê dạo nọ) nên tuy TVL có già hơn xưa chút đỉnh mà cũng có hằng tỷ bài thơ tình viết cho hàng tỷ người yêu thơ mình (lời TVL).


Coi vui nhé,


ĐHN 


…………………………………………………………


Ngày 19 tháng Ba năm 2018 này là ngày “chu niên” thứ Mười Chín của Vuông Chiếu – website của anh Luân Hoán, bạn cùng khóa SQTB 24 với tôi, là bạn của rất nhiều người yêu thich Thơ Luân Hoán hơn nửa Thế Kỷ rồi  (Luân Hoán làm thơ có tiếng tăm từ năm 1966…không biết đến bao giờ nữa, nhưng dù hơn Nửa Thế Kỷ, thực tế thì tài thơ của Luân Hoán chạy dài…đã qua hai Thế Kỷ, 20 và 21), anh cho tôi biết anh sẽ “ưu ái” cho một bài viết xuôi của tôi…về chuyện gì cũng “ổn”.  Tôi hứa mà cứ lê la hơn hai tuần rồi!  Hễ ngồi trước computer thì thơ nhảy ra như bầy cóc nhái để chiều hôm qua, rồi sáng hôm nay, anh lại email nhắc…Tôi thật đáng trách, đáng ghét…đáng bị trọng cấm lắm nhen!


Tôi vào đề như trên vì tôi muốn cò cưa, muốn “cân hồ”, muốn câu giờ chớ tình ngay lý gian tôi không dám làm Luân Hoán bực bội đâu.  Anh đã từng đau vì mất một chân trên chiến trường ngày xưa, đã lâu lòng anh nguội, bây giờ mà “mất niềm tin” nơi tôi nữa thí chắc anh đau thêm?


Tôi có “cù nhày”, xin anh xá tội nha, anh Luân Hoán!


*


Tôi viết về Đỗ Hồng Ngọc nè…


Đỗ Hồng Ngọc – Y khoa Bác Sĩ tốt nghiệp trường đại Học Y Khoa Sài Gòn năm 1969 , cũng là nhà thơ Đỗ Nghê (mà trong cuốn Sống Và Viết Với…của Nguiễn Ngu Í, cậu ruột của Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc, em ruột của Má ruột Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc, lại viết bút danh của cháu mình là Đỗ Ngê…)Thi sĩ Đỗ Nghê đã có nhiều tập thơ in thành sách, trước và sau biến cố Ba Mươi Tháng Bốn Năm Ngàn Chín Bảy Lăm:  Tình Người, Thơ Đỗ Nghê, Giữa Hoàng Hôn Xưa, Vòng Quanh, Thư Cho Bé Sơ Sanh & Những Bài Thơ Khác; mới nhất trong năm 2017 là tập Thơ Ngắn…mới toanh!  Văn sĩ Đỗ Hồng Ngọc không thấy có tập truyện hay cuốn tiểu thuyết nào, chỉ thấy “cái tài viết văn xuôi của chàng” là Tùy Bút.  Đỗ Hồng Ngọc ký tên thật là Đỗ Hồng Ngọc trên những tập Tùy Bút này: Gió Heo May Đã Về, Già ơi…Chào Bạn, Những Người Trẻ Lạ Lùng, Thư Gửi Người Bận Rộn, Như Thị, Cũng Chẳng Khoái Ru, Nhớ Đến Một Người, Ăn Vóc Học Hay, Ghi Chép Lang Thang…, Nghĩ Từ Trái Tim, Gươm Báu Trao Tay, Ngàn Cánh Sen Biếc, Một Hôm Gặp Lại.  Chắc chắn trong tương lai gần, Đỗ Hồng Ngọc sẽ còn ra thêm vài cuốn nữa!


Năm 2016 tôi có chuyến về thăm gia đình ở Phan Thiết, tôi có gặp Đỗ Hồng Ngọc bằng-da-bằng-thịt tại Sài Gòn ngay lúc tôi vừa rời phi trường Tân Sơn Nhứt để về khách sạn.  Ôi bạn tôi…giống tôi:  Già!  Xa nhau từ năm 1955 đến năm 2016 mới gặp lại, ai còn sống mà không già khú đế?  Tay bắt mặt mừng, và khách sáo như không khách sáo: Cả hai đều ứa nước mắt.  Cả hai đều gọi tên nhau như…hổi nhỏ:  Ồ Ngọc!  Ồ Lệ!  Rồi, trước khi cầm đũa bữa cơm trưa, hai đứa mặc kệ lu bù người khách mời của BS Đỗ Hồng Ngọc, hai đứa chúng tôi nhắc lại một vài chuyện của thời tí hon:  Trong lớp mìnhcó hai thằng trùng họ trùng tên, chỉ khác có tên lót là Đỗ Hồng Ngọc và Đỗ Hoàng Ngọc.  Đỗ Hồng Ngọc biến mất khỏi trường Trung Học Phan Bội Châu Phan Thiết từ niên khóa 1955-1956 trở đi…biền biệt.  Năm 1989, tôi mới thấy lại cái tên Đỗ Hồng Ngọc trên báo trong nước.  Đỗ Hoàng Ngọc thì chúng tôi xa nhau sau khi hết học Đệ Tứ Phan Bội Châu, Phan Thiết.  Năm 1967, tôi về nhận nhiệm vụ lính tại Tiểu Khu Bình Thuận, đeo lon Chuẩn Úy, tôi có thấy Đỗ Hoàng Ngọc mang lon Trung Úy.  Hình như nó không muốn…chào cấp dưới mà tôi cũng ngại chào cấp trên (vì phải chào đúng nghi thức nhà binh đối với tôi, anh chàng lính sữa).  Tôi có gặp lại lần nữa Đỗ Hoàng Ngọc, chúng tôi thấy nhau, không chào hỏi vì lệnh trại giam cấm mọi sự “liên hệ”.  Chuyển dịch hoài hoài, tôi không biết Đỗ Hoàng Ngọc còn sống hay ra sao, sau đó, sau này… (*)


Nay, hội ngộ Đỗ Hồng Ngọc thật tình…cứ ngỡ mình gặp ma!  Thời gian như nước chảy qua, tại sao con người hay đi ngược lại nhỉ? Tìm gì trong quá khứ?  Những nụ cười thắm tươi?  Những giọt lệ đoanh tròng?  Ôi, tìm gì cũng được…cốt là thấy cái bóng cái hình của cố nhân!


Viết tới đây, tôi sực nhớ mấy câu thơ của Hà Liên Tử trong tập Tiếng Bên Trời:


 


Mười năm xưa, mười năm sau


Một hình bóng cũ xóa màu thời gian


Cầm như đã lỡ nhip đàn


Cố nhân ôi bấy ngỡ ngàng cố nhân!


 


Giữa Đỗ Hồng Ngọc và tôi không đến nỗi nào như thế.  Tôi là một “tù binh” đã thành người ngoại quốc, Đỗ Hồng Ngọc về hưu lâu rồi, không dính dấp chính trị.  Đỗ Hồng Ngọc là một Thầy Thuốc, là một nhà văn…Tất cả “bình dị” trong cuộc tâm tình của tôi, người xa; bên các bạn, người trong cuộc bể dâu.  Chúng tôi nhắc diều tiên quyết Nguyễn Công Trứ từng dạy:  Thân còn chưa có, có chi danh?  Không nổ.  Không ai nổ.  Có cái “cục” gì mà nổ!  Lời của Thiên Chúa nói với Adam và Eva thật chí lý:  Ta tạo các ngươi từ đất, rồi các ngươi sẽ trở về với cát bụi…Cổng Vườn Địa Đàng đã khép rồi, vĩnh viễn!


Tôi đọc được trên báo Thế Giới Tiếp Thị phát hành tại Sài Gòn…mới, có bài Phỏng Vấn Bác Sĩ – Nhà Văn – Nhà Thơ Đỗ Hồng Ngọc, thấy như cái “duyên” bèn copy paste vào đây chơi cho vui:


 


Báo THẾ GIỚI TIẾP THỊ ONLINE

Thứ hai, 26/02/2018

20:10 GMT + 7


thegioitiepthi.vn


 


Y khoa là một môn khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Nó gắn liền với thân và tâm của con người. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã chia sẻ với Thế Giới Tiếp Thị Online như vậy nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2).


Thế Giới Tiếp Thị Online: Là một người làm chuyên môn về khoa học có vẻ hơi khô khan, nhưng những tác phẩm của ông lại cho thấy ông là một nghệ sĩ khoáng đạt, trẻ trung và rất nhạy cảm. Vậy thực ra ông “ưa” con người nào của mình?


Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc: Tôi “làm thơ” trước khi “làm bác sĩ”… Bác sĩ là một cái “nghề”, còn thơ là một cái “nghiệp”. Thời trung học, tôi đã có những bài thơ đăng báo. Nó tự nhiên mà đến. Nó gần như không học, gần như không “làm”. Khi đậu Tú tài II xong (năm 1962) thì tôi thi vào trường Y để học “làm bác sĩ’’. Vùng quê tôi nghèo, thiếu thầy thiếu thuốc, tôi nghĩ làm bác sĩ thì có thể giúp ích được cho mình và cho nhiều người hơn. Nhưng vì đam mê văn chương, tôi ghi danh học thêm bên Văn khoa, và sau đó còn học thêm bên Xã hội học. Thời đó, chỉ có y khoa, sư phạm và kỹ thuật Phú Thọ mới phải thi đầu vào, còn các ngành khác chỉ cần ghi danh học. Nên học thiệt là “sướng’’!


Chính học giả Nguyễn Hiến Lê cũng đã khuyên tôi nên học bác sĩ. Ông nói, làm bác sĩ giúp ích được cụ thể cho người, rồi chừng mươi năm hành nghề, có dịp tiếp xúc với bao cảnh đời, bao con người, nếu có tâm hồn nghệ thuật thì sẽ có thể viết văn. Nhiều nhà văn xuất thân bác sĩ như Sommerset Maugham, Tchekov, Cronin…


Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Nó gắn liền với thân và tâm của con người. Mà cái gì đã liên quan đến con người thì luôn là một “nghệ thuật’’ chứ, phải không? Cho nên ngày nào y khoa trở thành hoàn toàn máy móc thì nguy cho con người lắm! Khi máy móc hóa hay thương mại hóa mối quan hệ “thầy thuốc – bệnh nhân’’ thì có nhiều vấn đề đặt ra.


Khi thực tập ca “đỡ đẻ” đầu tiên ở Bênh viện Từ Dũ (1965) tôi đã viết bài thơ “Thư cho bé sơ sinh’’. Tập thơ đầu tay của tôi, năm 1967, có tên là Tình Người, khi đang học năm thứ 5 tại Y khoa Đại học đường Saigon.


Tóm lại, y khoa không xa lạ với “một nghệ sĩ khoáng đạt, trẻ trung và nhạy cảm”.


Vậy  “Ưa con người nào của mình hơn” đâu cần phải trả lời nữa phải không?


 


Theo ông, nghề bác sĩ ở Việt Nam có thể coi là thiệt thòi không khi thu nhập và áp lực công việc chưa tương xứng?


– Tôi là một thầy thuốc già, cho phép hay nhắc chuyện xưa để “ôn cố tri tân” nhé. Thời tôi học Y phải 7 năm. Thi đầu vào không dễ, đậu chừng hơn 10%. Tôi còn nhớ ngoài những môn lý, hóa, sinh, sinh ngữ… thường lệ, còn có thêm 20 câu hỏi tổng quát về văn hóa… như âm nhạc, hội họa, sử, địa, về Biển Thước, Hoa Đà, Hải Thượng Lãn Ông, Hippocrate và những câu về đời sống xã hội như “giá gạo trên thị trường bao nhiêu một ký?”, “giá than trên thị trường bao nhiêu một ký?”… Rõ ràng là một cách thăm dò không chỉ kiến thức tổng quát của người thầy thuốc tương lai mà thăm dò cả sự hiểu biết về tình hình đời sống thực tế xung quanh.


Ra trường phải trình luận án để được cấp bằng Tiến sĩ Y khoa quốc gia (Doctorat en Medecine, Diplôme d’’Etat) và phải ghi danh vào Y sĩ đoàn (Chữ Y sĩ ở đây để chỉ người làm nghề y chớ không phải một cấp bực trung cấp trong ngành y như sau năm 1975). Y sĩ đoàn (nghiệp đoàn nghề nghiệp của bác sĩ) sẽ quản lý, giám sát nghề nghiệp cho bác sĩ, đảm bảo hành nghề đúng nghĩa vụ và lời thề Hippocrate khi tốt nghiệp, xử phạt khi có sai phạm, bênh vực khi bị oan khuất, hành hung… Nhờ hệ thống này, nghề y được tôn trọng vì họ luôn xử lý công bằng, tránh những ảnh hưởng tác động từ bên ngoài, đỡ gánh nặng cho quản lý nhà nước, hành chánh. Tiếc thay, sau này không còn nữa nên nhiều vụ kiện tụng xảy ra, nhiều vụ bạo lực hành hung bác sĩ đáng tiếc!


Về đời sống bác sĩ, thì lương hướng khi ra trường với chỉ số 720 (học 7 năm) được khoảng 12 ngàn đồng (giá vàng thị trường là 9 ngàn) nên họ chỉ phải lo tập trung cho nghề nghiệp, sao cho giỏi, cho có đạo đức tốt, thăng tiến trong nghề nghiệp. Dĩ nhiên cũng có những vụ không hay… nhưng đều được Y sĩ đoàn xử lý thỏa đáng.


Ngày nay, bác sĩ học 6 năm, cũng “trầy vi tróc vẩy” nhưng ra trường được coi như ngang cấp cử nhân 4 năm, hệ số lương 2.34… gì đó nên nơi nào, người nào cũng phải lo “cải thiện đời sống”…  Dĩ nhiên bác sĩ thời nay nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, khoa học y học nên tài năng hơn chúng tôi ngày xưa nhiều. Sự vô lý ở chỗ một cử nhân 4 năm, học thêm 2 năm thì đã là “thạc sĩ” còn bác sĩ 6 năm thì coi như cử nhân!


Rõ ràng với nghề y ở Việt Nam ngày nay “thu nhập và áp lực công việc chưa tương xứng”, nhưng đáng ngại hơn là ngày càng nhiều vụ vi phạm đạo đức, càng nhiều vụ hành hung thầy thuốc không được giải quyết rốt ráo. Có cái gì đó bất thường ở đây trong mối tương quan thầy thuốc – bệnh nhân vốn đầm ấm từ ngày xa xưa.


Mối tương quan thầy thuốc – bệnh nhân đã có nhiều thay đổi, thưa bác sĩ?


– Thời xa xưa, thầy thuốc là “phù thủy”, mối quan hệ là bất bình đẳng, cha chú, gọi dạ bảo vâng. Rồi khi ngành y bị thương mại hóa, bệnh nhân trở thành khách hàng, người tiêu thụ (consumer) còn thầy thuốc thành người cung cấp dịch vụ (health care provider) thì “khách hàng là Thượng đế”, nên phải chiều chuộng bệnh nhân, cung cấp càng nhiều dịch vụ càng tốt để làm… kinh tế!


Mới đây, ở Mỹ đã có một phim báo động: Một nền y học vì đồng tiền (Money-driven Medicine). Cả hai mối tương quan đó đều không tốt, không phải. Ngày nay khuynh hướng là cần có sự hợp tác, đồng thuận hai chiều và cần tôn trọng tính tự chủ của hai bên (autonomy). Vì thế vai trò truyền thông giữa thầy thuốc bệnh nhân trở nên rất quyết định, nên đã có khái niệm “truyền thông trị liệu” (therapeutic communication).


Người thầy thuốc hôm nay cần có nền tảng văn hóa rộng. Học về truyền thông, về khoa học hành vi (tâm lý, xã hội, nhân chủng…), về giáo dục sức khỏe, nâng cao sức khỏe, quan tâm tới chất lượng cuộc sống chứ không chỉ biết chữa bệnh tật. Mô hình bệnh tật nay cũng đã thay đổi. Bệnh nhân ngày càng trở thành “thầy thuốc” cho chính mình, không bị lệ thuộc vào thầy vào thuốc như xưa. Thế nhưng cũng có những nguy cơ như dựa vào thông tin trên Internet bệnh nhân tự chẩn đoán, tự điều trị dẫn đến những hậu quả đáng tiếc khác.


Một cuộc sống hạnh phúc, một cá nhân hạnh phúc, theo quan điểm của ông là gì?


– Có thứ hạnh phúc bền bỉ, lâu dài và có thứ hạnh phúc mong manh, chốc lát. Một người trúng số độc đắc sẽ rất hạnh phúc, một người đoạt vương miện hoa hậu sẽ rất hạnh phúc… Nhưng đó thường là hạnh phúc trong chốc lát, vì chẳng bao lâu nó bay biến… Hạnh phúc lâu dài thì đó chính là sự an lạc trong thân tâm. Có thể tóm trong mấy chữ là từ bi hỷ xả. Có tâm Từ ái thì tâm hồn luôn rộng mở, biết yêu mình, yêu người, yêu thiên nhiên, biết bảo về môi trường sống, môi trường văn hóa tốt đẹp; có tâm Bi mẫn thì biết sẻ chia, đùm bọc, giúp đỡ… Có tâm Hỷ thì xóa bỏ được lòng ghen ghét, ganh tỵ, hận thù và có tâm Xả thì biết đủ, kham nhẫn tri túc…Thứ hạnh phúc đó có thể sẻ chia, lan tỏa.


Hiện nay trong thời đại đầy bất trắc, lo âu, một số quốc gia đã đi tìm một thứ hạnh phúc bền bỉ lâu dài cho quốc dân qua khái niệm GNH (Gross National Happiness = Tổng hạnh phúc quốc gia) thay vì GNP (Gross National Product = Tổng sản phẩm quốc nội) là chỉ dựa trên tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Người ta nhận ra nhiều quốc gia có tăng trưởng kinh tế cao mà người dân không có được hạnh phúc. GNH dựa trên 4 yếu tố chính: bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường văn hóa, sức khỏe và tuổi thọ, chánh quyền vì dân…


Tóm lại, hạnh phúc cá nhân quyện trong hạnh phúc tổng thể.



Trân trọng cảm ơn bác sĩ đã chia sẻ với bạn đọc Thế Giới Tiếp Thị Online.


HOA ĐINH





…………………………………………………………………………………..


 




Đấy, các bạn biết ít nhiều về ” sanh hoạt” của Đỗ Hồng Ngọc rồi nhé.  Gọi Đỗ Hồng Ngọc là Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc hay nhà thơ, nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, cũng “duyên” thôi.  Trong chuyến về của tôi sau hai mươi bảy năm “trời ơi đất hỡi”, Đỗ Hồng Ngọc ký tặng cho tôi tập Tùy Bút mới nhất, Một Hôm Gặp Lại xuất bản bởi Nhà Xuất Bản Văn Hóa – Văn Nghệ TP HCM VN.


Đây là một cuốn sách khá dày của Đỗ Hồng Ngọc, 300 trang, khổ sách, vuông vắn, dễ thương.  Đọc tùy bút của Đỗ Hồng Ngọc, nếu nhà văn Duyên Anh mà còn, chắc chắn Duyên Anh chỉ phán một câu:  “Sướng Rên Mé Đìu Hiu!”.


Tôi từng “mê” tùy bút của Nguyễn Tuân, Vũ Bằng.  Có nhiều năm rất chờ mong tác phẩm mới của Võ Phiến viết về Tùy Bút.  Nay đọc Một Hôm Gặp Lại…tôi thấy Tùy Bút là một thể văn đẹp, mềm mại, tao nhã không khác gì Thơ!  Xưa, xưa lắm Phạm Đình Hổ có cuốn Vũ Trung Tùy Bút…mô tả, cô đọng, hâm nóng chỉ vài ba giọt mưa trên tàu lá chuối mà đã ấm cả lòng người.  Bậy giờ đọc Một Hôm Gặp Lại của Đỗ Hồng Ngọc, xếp sách mấy lần, gần hai năm tròn trịa, vẫn nghe lòng nao nao, êm ru và diệu vợi…Té ra bạn tôi là Khách-Đa-Tài!


*


Tôi muốn viết một bài “nhận định” về cuốn Tùy Bút Một Hôm Gặp Lại của Đỗ Hồng Ngọc, nhưng không thể rồi!  Một là tôi đang nghe trong người mình có chuyển biến không ưng bụng.  Nhìn qua những lọ thuốc bên cạnh nhớ sáng nay chưa uống thứ nào, hèn chi mà nó rêm mình! Là tôi phải đi uống thuốc vậy!  Hai là…giữ lời hứa với anh Luân Hoán, viết một bài và gửi qua Canada liền liền tú xuỵt, hẹn lâu quá nhen…Ôi chuyện gì cũng dang đở!  Hồ Dzếnh có bài thơ Ngập Ngừng, có hai câu như sấm…sét:  “Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở, tình mất vui khi đã vẹn câu thề!”.


Bạn đọc yêu quý ơi, hãy tìm cuốn Một Hôm Gặp Lại của Đỗ Hồng Ngọc đọc đi…rồi đọc lại.  Nếu những lời tôi “mạ kền mạ bạc” về một “ông Bác Sĩ Viết Văn” là không đúng sự thật, xin nói cho tôi biết.  Và…cái câu “Biết Chết Liền” nghe thơm thảo cả một miền Nam yêu dấu!


Vậy nha…anh Luân Hoán!


Trần Vấn Lệ


…………………………………….


(*) TVL ơi, mới đây mình có gặp lại Đỗ Hoàng Ngọc cùng nhóm bạn Phan Bội Châu ngày xưa. Cũng trên 60 năm rồi mới gặp nhau. Đỗ Hoàng Ngọc học về ngành Hóa ở Bách Khoa thời đó. Nay thấy khỏe vui. Mừng. (ĐHN)

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on February 02, 2020 19:44

thơ Phan Bá Thụy Dương: Nói Với Thiền Khách

 


THƯ CỦA BẠN XA XÔI




On Feb 3, 2020, at 09:44, Phan Ba Thuy Duong


Ngọc thân,


Gởi toa bài thơ Nói Với Thiền Khách mình làm tặng bạn và anh Trần Thiện Hiệp.


2 tuần nữa mình sẽ rời Kobe để về Thuỵ sĩ. Vẫn luôn ghi nhớ những ngày ngao du cùng Ngọc ở Saigon.


Ráng giữ gìn sức khoẻ để thường xuyên đi làm những điều tâm nguyện và hữu ích cho đời, cho người…


Cầu cho bạn thân tâm luôn an lạc.


Tình thân,


Phan Bá Thụy Dương


 



 


………………………………………………………..


 


PHAN BÁ THUỴ DƯƠNG


Nói Với Thiền Khách


Gởi ĐỗHồngNgọc, TrầnThiệnHiệp


 


Cánh vạc nào bay trong triền nắng sớm


Tiếng hót xa xăm như tận cõi trời


Sao u trầm chất ngất khách thiền ơi


Xin nhẹ bước trên lối mòn tỉnh lặng


 


Rừng cô tịch có gì đâu tra vấn


Lửa Chân Như có đủ ấm linh hồn


Đất bùn nào còn ghi lại dấu chân


Tâm vô niệm đường xa gần đi mãi


 


Có phải người đang quay về bến đợi


Gom lá vàng gỗ mục dưới trăng trong


Về đi thôi, đêm lạnh giá mênh mông


Áo nâu mỏng sao che mưa đở gió


 


Chim thức giấc cất lời ru thanh nhã


Người phong trần qua mấy độ truân chuyên


Thấy gì chưa tự ngã với uyên nguyên


Hay ngần ngại chia xa lòng thung lũng


 


Từ tiềm thức đã lạc quên long trượng


Đâu đây chừng thấp thoáng ánh vô ưu


Thiền khách này, thiền khách đã về chưa


Xin trả lại cho ta quê, tình cũ.


 


PHAN BÁ THUỴ  DƯƠNG


…………………………………………………………………….


Phan Bá Thụy Dương tên thật là Phan Bá Dương. Sinh năm 1940 tại quận Tuy Phong, Bình Thuận.

Khởi viết từ 1958 với các bút hiệu Thùy Dương, Người Áo Xanh, Vương Hầu… và từ năm 1966 về sau là Phan Bá Thụy Dương.


“Chủ nhân” trang Văn Hữu Vườn Tao Ngộ. Viết rất nhiều báo, làm Nhà xuất bản in sách cho thiên hạ, và thiên hạ in giùm lại cho một tập thơ duy nhất: Lời Gọi Cỏ May (2012).


(ĐHN)


……………………………………………………………………..


 


Lời Gọi Cỏ May của Phan Bá Thụy Dương


Đỗ Hồng Ngọc


Phan Bá Thụy Dương, tên thật Phan Bá Dương, sinh năm 1940 tại Tuy Phong, Bình Thuận, cùng học chung lớp Đệ thất A1 trường Phan Bội Châu Phan Thiết năm 1954 với Trần Vấn Lệ, Phan Đổng Lý, Huỳnh Ngọc Hùng, Huỳnh Tấn Thời, Đỗ Hồng Ngọc…


Bọn tôi “thất lạc” nhau mấy chục năm, người góc biển kẻ chân trời, năm nay bỗng gặp lại nhau- tình cờ cũng là dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường Phan Bội Châu, Phan Thiết – đứa nào đứa nấy ngớ ra, đầu bạc răng long, ú ú ớ ớ rồi mày mày tao tao tíu tít như những cậu học trò nhỏ nghich ngợm ngày xưa bên bờ sông Cà Ty và bãi biển Thương Chánh!


Phan Bá Thụy Dương viết văn làm báo sớm, từ năm 1958 với nhiều bút hiệu, thân quen  nhiều người trong giới văn nghệ sĩ. Anh là một người “khoái hoạt”, vui tính, náo nhiệt, chuyện trên trời dưới đất gì cũng biết nên ai gặp cũng vui. Anh làm sách cho nhiều tác giả mà quên làm cho mình cuốn nào. Mãi nay bạn bè hối thúc quá mới in một cuốn “tuyển tập thơ văn Lời Gọi Cỏ May” cho vui. Lời gọi cỏ may có nhiều bài thơ cảm động, anh em bè bạn viết cho nhau.


Thơ Phan Bá Thụy Dương phải nói là hay, khoái hoạt mà khinh bạt, trầm lắng… Thử đọc một đoạn trong liên khúc vô thường:


 


liên khúc vô thường


 


ném công án, vất kinh thư bất ngộ


theo đường trăng-


trăng khi tỏ khi lu


tìm người hiền nơi thâm cốc âm u


thõng tay vào rừng giả làm ẩn sĩ


giòng sinh mệnh


chừng nhuộm màu chướng khí


bến nhân gian ai quán niệm vô thường


hành trình xa ngựa đà lỏng dây cương


trên vách núi chân dung in mờ tỏ


…….


(LGCM, tr 4)


 


Phan Đổng Lý “vẽ” PBTD:


Nhớ Phan Bá Thụy Dương


 


Nhớ đến bạn già mà lòng ta ngán ngẩm


Nặng nhẹ bao lần như đàn khảy tai trâu


Miệng phập phì phèo, nặc nồng mùi khói tỏa


Mắt mở mơ màng, trầm mặc cuộc bể dâu!


Mải miết rong chơi trăm đường thành ngỏ cụt


(…)


Trời xanh chơi ác


Tuổi thơ ngổ ngáo, già lại ngu ngơ


Trầm thân vào chốn bụi mờ


Bạc đầu lưu lãng làm thơ gọi tình


(…)


 


Trần Vấn Lệ


Gửi Theo Phan Bá Thụy Dương


 


Bạn đã về chưa? Bạn đã về?


Đến nơi chưa vậy mà im khe!


Hỏi ai, chẳng biết ai han hỏi


Đợi bạn, không nghe bạn nói gì…


Tôi độ rày sao hay tức thở


Bạn hồn nhiên nhỉ vẫn ham đi


Tuổi người, chớp mắt, tôi thường chớp


Chắc khó có ngày ngó lại quê…


 


 


Đỗ Hồng Ngọc


Gửi Trần Vấn Lệ


(họa lại mấy vần)


 


Về đi! Sao bạn chẳng đi về?


Khế ngọt sim rừng đợi: nín khe


Bè bạn ấu thời còn mấy đứa


Người thơ cơm áo chớ lo gì!


Ruộng vườn hoang rậm thôi, đừng nhắc


Sông nước gập ghềnh mặc, bỏ đi


Áo ngoại vẫn phơi ngoài giậu trúc


Cơi trầu thơm mãi chút hồn quê…


 


Sg 16.9.2012


………………………………………….


Bạn nhớ hái ăn chùm khế ngọt


Tôi quên để héo trái sim còi…


 (thơ TVL)


 


(Nguồn: https://www.dohongngoc.com/web/huom-huom/gia-oi-chao-ban/loi-goi-co-may/)


 


 


 


 


 

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on February 02, 2020 18:17

January 26, 2020

Xá-lợi-phất và Duy-ma-cật

 


Xá-lợi-phất và Duy-ma-cật

Đỗ Hồng Ngọc


 


(Internet)


Hôm đó ở thành Tỳ-da-ly,  Duy-ma-cật tiếp Bảo Tích và năm trăm vị vương tôn công tử, thiếu gia con nhà viên ngoại, là những “Bồ-tát tại gia” tương lai, đối tượng đích của buổi “huấn luyện đặc biệt” tại cái thất trống trơn của ông, có mặt Xá-lợi-phất, đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật và có cả Bồ tát Văn Thù cùng một số lớn các vị Đại đệ tử khác.


Lúc bấy giờ, Xá-lợi-phất thấy trong thất của Duy-ma-cật trống huơ trống hoắc không có giường ghế chi cả, liền đặt câu hỏi:


“Chư vị Bồ Tát và các Đại đệ tử này rồi sẽ ngồi ở đâu?”


Ai nấy chưng hửng. Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi và Duy-ma-cật đang thuyết giảng về con đường tu tập: “Bồ-tát phải có nội lực (trí huệ), phải có chiêu thức (phương tiện), biết dùng «sức phương tiện». Rồi nào Vô sở trụ, Vô sở đắc… rồi nào sống trong  thực tướng vô tướng mà vẫn thấy chân không diệu hữu… nào chuyện lớn như bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bố thí, trì giới, nhẫn nhục… thì một vị Đại đệ tử trí tuệ bật nhất của Đức Phật đặt một câu hỏi trớt quớt, tầm thường vậy sao?


Nhưng không. “ Rồi sẽ ngồi ở đâu?” rõ ràng là một vấn đề mấu chốt của buổi huấn luyện nhằm đào tạo các vị Bồ-tát tương lai này. “Rồi sẽ ngồi đâu?” phải đặt ra để xác định vai trò, vị trí, nhiệm vụ của một Bồ tát tại gia cũng như các Đại đệ tử muốn đi vào con đường Bồ tát đạo.


Từ đó, một câu hỏi tiếp theo sẽ là họ có đủ sức “ngồi” chưa? Họ có lòng đại bi, không “ái kiến” chưa? Có nhu hòa nhẫn nhục chưa? Có thấy biết và sống với “nhất thiết Không” chưa?


Nhiệm vụ trước hết của một vị Bồ-tát có lẽ phải là một vị Pháp sư chân chánh, truyền bá được giáo pháp của Phật để “thành tựu chúng sanh”. Những lời dạy của Phật trong kinh sách không chỉ để “thọ trì, đọc tụng” mà còn phải “biên chép, giảng nói”. Phải hiểu rõ ẩn nghĩa từng câu từng chữ trong kinh, phải biết diễn giải tùy tình huống, tùy đối tượng. Phật “khai thị”, nhưng chúng sanh phải tự mình “ngộ nhập” mới xong. Không chỉ vậy, không chỉ thuyết giảng bằng lời mà còn phải là một tấm gương “tự chứng, tự nội” của một thiền giả.


Để có thể làm một Pháp sư chân chánh thì phải đáp ứng 3 điều kiện: “Vào nhà Như Lai; Mặc áo Như Lai; Ngồi tòa Như Lai.. Vào nhà Như Lai là có lòng từ bi rộng lớn, thấy chúng sanh đều như cùng “chung một mái nhà”; mặc áo Như Lai là có đức nhu hòa nhẫn nhục; và quan trọng nhất là thấu triệt tánh Không, duyên sinh, vô ngã, thực tướng vô tướng…


Duy-ma-cật liền quay sang hỏi Bồ-tát Văn-thù: “Nhân giả  có biết cõi Phật nào có những tòa sư tử đủ các công đức, đẹp đẽ cao trọng, mầu nhiệm hơn hết?” dĩ nhiên là để mượn về làm chỗ ngồi cho các vị.

”Tòa sư tử đủ các công đức, đẹp đẽ cao trọng, mầu nhiệm hơn hết ” ư? Phải, tòa sư tử chính là nơi chư Phật, chư Bồ-tát ngồi thuyết pháp. Lời thuyết pháp như sư tử hống, như tiếng rống của sư tử. Trên thực tế, “tòa sư tử” đó có khi chỉ là một vệ cỏ, một gốc cây, một tọa cụ đơn sơ… nhưng nó đã trở thành “tòa sư tử” bởi chính vị Pháp sư chân chánh ngồi thuyết pháp trên đó.


Văn-thù đáp: “Cư sĩ, từ đây đi về phương đông, vượt qua số cõi nước nhiều như số cát ba mươi sáu sông Hằng, có một thế giới tên là Tu-di Tướng. Đức Phật cõi ấy hiện nay hiệu là Tu-di Đăng Vương, thân cao đến tám mươi bốn ngàn do-tuần. Tòa sư tử của ngài cũng cao đến tám mươi bốn ngàn do-tuần, nghiêm sức bậc nhất.”


Tức khắc, ba mươi hai ngàn tòa sư tử cao rộng nghiêm tịnh cao đến tám mươi bốn ngàn do-tuần đó bay vèo đến thất của Duy-ma-cật mà không hề gây chướng ngại chi cả, bốn cõi thiên hạ cũng không có sự dồn ép chật chội, vẫn y nguyên như cũ…


Duy-ma-cật bảo Xá-lợi-phất: “Thỉnh ngài lên ngồi tòa sư tử.”

Xá-lợi-phất đáp: “Cư sĩ! Tòa ấy cao rộng quá, tôi không thể lên ngồi.”

Duy-ma-cật nói: “Thưa ngài Xá-lợi-phất! Ngài hãy lễ bái đức Như Lai Tu-di Đăng Vương, rồi sẽ ngồi được thôi!”


Lúc ấy, những vị Bồ Tát mới phát tâm cùng các Đại đệ tử liền “lễ bái” đức Như Lai Tu-di Đăng Vương. Các vị liền được ngồi lên các tòa sư tử.


“Lễ bái” là thực hành, là rèn luyện để có trí huệ sáng suốt, rộng lớn (Tu di Đăng vương), để thấy biết, để sống trong Như Lai thì mới có thể lên tòa sư tử đó mà ngồi để thuyết pháp, để làm một Pháp sư chân chánh.


Bấy giờ đã gần giờ ngọ, Xá-lợi-phất lại hỏi: “Sắp đến giờ thọ thực rồi. Các vị Bồ-tát này sẽ ăn thức gì đây?”.


Nữa. Vừa mới đòi hỏi chỗ ngồi giờ đến đòi hỏi chuyện ăn. Cứ đến lúc mọi người đang bay bổng trên chín từng mây với những lý luận cao vời thì Xá-lợi-phất lại kéo ngay xuống mặt đất!


Ăn không phải là chuyện hệ trọng sao? Đức Phật tới giờ ăn mà còn phải khoác y, trì bát vào thành khất thực, mang về đạo tràng ăn uống xong xuôi đâu đó rồi mới rửa chân lên ngồi… nhập định trước khi thuyết giảng Kim Cang Bát Nhã đó sao?


Dĩ nhiên, Xá-lợi-phất hỏi “các vị Bồ Tát này sẽ ăn thức gì đây” mang một ý nghĩa khác: các vị Bồ tát tại gia tương lai này sẽ được nuôi dưỡng bằng “thức ăn”gì đây  để có thể trưởng thưởng tâm Bồ đề mà thực hiện tốt các hoạt động của một vị Bồ-tát chân chánh nhằm “thành tựu chúng sanh”?


Duy-ma-cật lên tiếng: “ Xin đợi cho giây lát, tôi sẽ khiến quý vị được thứ thức ăn chưa từng có.”.


Thứ thức ăn chưa từng có ư? Với các vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà trưởng giả này thì cao lương mỹ vị có gì là lạ, tổ yến hồng sâm, nem công chả phượng có gì là lạ.


Họ háo hức chờ đợi Duy-ma-cật mang lại thứ thức ăn “chưa từng có” là gì đây!


Thì ra… Duy-ma-cật mang đến một mùi hương! Một mùi hương thơm. Thứ “thức ăn” xin được từ cõi Chúng Hương của Phật Hương Tích!


Duy-ma-cật liền nhập vào Tam-muội, dùng sức thần thông khiến cho đại chúng nhìn thấy về hướng trên, cách đây nhiều cõi Phật liên tiếp nhau như số cát của bốn mươi hai con sông Hằng, có một cõi nước tên là Chúng Hương, hiện có đức Phật hiệu là Hương Tích ngự tại đó….


Phật dạy có bốn loại thức ăn để nuôi dưỡng thân và tâm. Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực. Đoàn thực là thứ thức ăn để nuôi thân được nói trước tiên. Không có thân sao có tâm? Không có sắc sao có thọ tưởng hành thức ? Tứ đại ngũ uẩn quan trọng quá chứ! Thân là một « bảo tháp » để tâm quay về nương tựa!  Nhìn 32 tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của Phật mà coi, chắc chắn khác hẳn cái thời lang thang khổ hạnh, suýt chết, tâm thần lãng đãng, thân thể chỉ còn xương bọc da, sờ tay vào bụng thì đụng phải cột sống ! Nhờ một chén sữa mà tỉnh giấc dưới cội Bồ đề. Từ đó, Thành đạo. Từ đó, Chuyển pháp luân. Nhưng suốt đời Phật, ba y một bát, tiết độ, kham nhẫn, tri túc. Ngày nay người ta dễ chạy theo lợi dưỡng, món ngon vật lạ, để rồi béo phì, tiểu đường, tăng huyết áp, tim mạch, gút… khổ thân!


Mỗi khi gặp một vị Phật, sau khi cung kính đảnh lễ, thì câu chào hỏi đầu tiên bao giờ cũng là: “Việc ăn uống thức ngủ của Ngài ra sao ? Ngài ít bệnh ít não chăng? Khí lực được an ổn chăng?” Nghĩa là luôn luôn thăm hỏi một vị Phật, một vị Như Lai về những nhu cầu tồn tại của cuộc sống (physical needs): Ăn, uống, ngủ, nghỉ, bệnh đau, phiền não, hít thở…


Còn xúc thực, tư niệm thực… ngày nay mới thật đáng ngại. Sách báo, phim ảnh, truyền hình, công nghệ thông tin ngày càng phát triển càng mang đến những nguy cơ cao về đời sống tinh thần của con người. Dĩ nhiên không phải lỗi tại sự tiến bộ của khoa học.


Trở lại với thứ thức ăn chưa từng có của Duy-ma-cật mang về là một mùi hương! Một thứ hương thơm đủ để nuôi cả thân và tâm bất tận. Đó chính là Giới đức. Thứ hương thơm có thể bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió!


Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. Phải được huân tập lâu ngày chày tháng. Giới từ luật nghi mà có nhưng giới cũng từ định, từ huệ. Hương thơm đó phải tích lũy từ từ mới đầy dần lên, mới sung mãn, tràn trề…


Cho nên Phật Hương Tích xuất hiện. Các vị Phật thật dễ thương. Lúc nào cũng sẵn sàng xuất hiện khi có ai đó cần đến ! Đức Phật Hương Tích lấy cái bát ở cõi Chúng Hương, đơm đầy cơm thơm, trao cho vị hóa Bồ Tát mang về cho Duy-ma-cật làm « Phật sự ». Phải đích thân Phật Hương Tích san sẻ món « cơm thơm » đó trao cho vị hóa Bồ-tát. Một pháp thí.


Duy-ma-cật mời: “Các nhân giả, hãy dùng món cơm cam-lộ của Như Lai, do lòng đại bi hun đúc mà thành”. Thứ « thức ăn chưa từng có” đó không sợ thiếu, luôn đủ cho tất cả mọi người, vì đó là một thứ « vô tận hương »…


Rõ ràng Xá-lợi-phất và Duy-ma-cật đã dựng nên một màn sắm vai (role playing) “tung hứng” làm cho buổi giảng trở nên hào hứng và sinh động…


(ĐHN)


 

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on January 26, 2020 17:19

January 24, 2020

“NHƯ KHÔNG THÔI ĐI ĐƯỢC!…”

 


 


NHIỀU TÁC GIẢ


NHỮNG BÀI VIẾT VỀ THƠ 


ĐỖ HỒNG NGỌC (ĐỖ NGHÊ)


 


NGÔ NGUYÊN NGHIỄM * ĐỖ TRUNG QUÂN


TRẦN VẤN LỆ *  Ý NHI *  LAM ĐIỀN


HUỲNH NHƯ PHƯƠNG * THU THỦY (VÕ PHIẾN)


NGUYỄN THÁNH NGÃ * PHAT’S BLOG


ĐỖ HỒNG NGỌC


NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH


NGUYỄN THỊ TỊNH THY


LÊ UYỂN VĂN * LAM ĐIỀN


TÔ THẨM HUY * HUỲNH NGỌC CHIẾN


PHAN CHÍNH * LÊ NGỌC TRÁC


DU TỬ LÊ * NGUYỄN THÁNH NGÃ


LUÂN HOÁN


 


Như Không Thôi Đi Được” là những bài viết về Thơ Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê) do tôi gom góp như một “Tệp tuyển” (Bản thảo) đọc vui trong những ngày tháng “Về thu xếp lại” này, một kỷ niệm rất riêng tư và chỉ chia sẻ cùng những bạn bè thân thiết…


Đây là bản PDF, dạng ebook.


Đỗ Hồng Ngọc


Email: dohongngocbs@gmail.com


(Hăm bảy Tết Canh Tý, 21.01.2020)


THO ĐHN (1.2020) NHƯ KHÔNG THÔI ĐI ĐƯỢC

Ghi chú: Cuối mỗi trang sách có mũi tên trắng để lật trang lên xuống tùy nghi.

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on January 24, 2020 23:34

Phật cười dưới trăng…

 


Phật cười dưới trăng…  


(Internet)


Chưa có khi nào Phật cười to như thế, cười sảng khoái, “cười hùng mạnh như vua sư tử…” giữa đêm trăng Lăng Già cùng với chúa đảo Ravana và thần dân của ông, với sự có mặt của hàng ngàn Bồ tát.


Giữa đỉnh núi ở trên đảo Lăng Già đêm trăng đó khi nhìn những ánh vàng bập bềnh trên sóng nước, vỡ tan, vỡ tan theo từng con sóng, Phật đã cất tiếng cười to. Ánh trăng vỡ tan rồi gom tụ lại. Rồi vỡ tan, rồi gom tụ lại. Thế giới muôn hồng ngàn tía cũng chỉ do Thức tâm tạo ra. Nó như huyễn, nó như mộng, như bào ảnh, như sương mai, như ánh chớp… Bên dưới đó, là Như Lai tạng, là A-lai-da vẫn im ả, “như như bất động”. Chỉ có cái thức tâm phân biệt của ta quậy phá chính ta. Cái tâm thanh tịnh bổn nhiên kia thì vẫn im ắng. Không lay động. Vẫn bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.


Vì thức khởi mà sự sinh. Thế giới chỉ là tâm thức của chính mình. Chúng sanh là ảo vật do ảo thuật gia là ta vẽ bày để rồi tự mình phan duyên, dính mắc, khổ đau…


Bồ tát thấy biết như vậy, thấy biết nhứt thiết duy tâm tạo, thấy chúng sanh là ảo vật do chính mình tạo ra rồi thức tâm phân biệt, chấp trước mà khổ đau bèn nói thẳng cho mọi người cùng biết. Nói thẳng ra như thế mới là “lòng Từ chân thật”, không giấu giếm, che đậy, không hù dọa, gạt gẫm nhau chi! “Trí chẳng đắc có không/ Mà hưng tâm đại bi”.


“Sao gọi là Từ? Bồ-tát nhờ hành Từ phương tiện nên thị hiện tất cả. Nhờ hành Từ không uẩn khúc nên lòng dạ trong sạch. Nhờ hành Từ không dối trá nên không có việc hư giả. Nhờ hành Từ an lạc nên được cái vui…


Sao gọi là Bi? Có được bao nhiêu công đức đều chia sẻ hết cho chung sinh.


Sao gọi là Hỷ? Làm lợi ích cho chúng sinh thì vui vẻ không hối tiếc.


Sao gọi là Xả? Làm những việc phước đức mà không hề mong nhận được phước báo”. (Duy-ma-cật).


Tâm bất sinh thì vô sinh. Vô sinh thì vô sự.  Dứt mọi phân biệt của thức tâm thì không bị quậy phá nữa. Ở đó là Như Lai tạng. Nhất thiết chủng trí. Đại viên cảnh trí. Bởi cái thế giới đối tượng bên ngoài kia không gì khác hơn là chính cái Tâm.


Thấy biết Như Lai, thì sống với Như Lai, sống trong Như Lai, sống cùng Như lai. Cho nên Phật cười thật sảng khoái!


Đỗ Hồng Ngọc


(Đặc san Liễu Quán, Huế. Xuân Canh Tý 2020) 

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on January 24, 2020 03:50

January 21, 2020

Thư gởi bạn xa xôi: Chợ quê NgàyTết

 


Thư gởi bạn xa xôi


Chợ quê NgàyTết

Bạn biết rồi đó. Giữa Saigon “hoa lệ” này mà tìm được một góc Chợ quê Ngày Tết không phải dễ đâu nhe! Hôm nay đã là 25 Tết Canh Tý 2020 rồi đó.


Vây mà có một góc phố chật hẹp đủ cho một cây đa cổ thụ um tùm, đã có các bà mẹ, em thơ áo dài xanh đỏ lại qua, có người xúm xít “tranh thủ” mua sắm rau củ quả, bánh trái các thứ cho ngày Tết… có kẻ xì xụp mấy món nóng hổi nào cháo lòng, bánh canh, bún bò huế rồi gỏi bò khô, rồi bánh cam, bánh ú, rồi chuối chiên, bánh thuẩn… không thiếu thứ gì. Toàn “nhà làm” mới quý chớ phải không? Có nhóm bày trò chơi cho trẻ thơ để các mẹ an tâm đi “chợ”… Đặc biệt có nhóm đang gói bánh chưng cho các  bệnh nhi đang nằm bệnh viện…


Coi mấy tấm hình cho vui thôi nhe. Làm biếng tổ rồi.


 


nhóm gói bánh chưng cho các bệnh nhi


 


nhóm “tranh thủ” mua sắm chút rau trái


 


nhóm xì xụp mấy món ăn nóng hổi


 


trẻ thơ xúm xít nghe kể chuyện hình


 


Có một… ông lão ngồi bán rỗ khoai… ế!  


 


Rồi bèn bày trò: một ông (ĐHN) thì coi bói, coi chỉ tay; còn một ông (LKT) thì lắc Bầu Cua Cá Cọp… Vậy mà chẳng mấy chốc khách tụ lại rất đông!


Thân mến,


ĐHN


(Cảm ơn Hội quán Các Bà Mẹ).


 

 •  0 comments  •  flag
Share on Twitter
Published on January 21, 2020 00:13

Đỗ Hồng Ngọc's Blog

Đỗ Hồng Ngọc
Đỗ Hồng Ngọc isn't a Goodreads Author (yet), but they do have a blog, so here are some recent posts imported from their feed.
Follow Đỗ Hồng Ngọc's blog with rss.