Đỗ Hồng Ngọc's Blog, page 31
June 20, 2021
“MỘT THỜI ĐỂ YÊU VÀ MỘT THỜI ĐỂ NHỚ”
LÊ KÝ THƯƠNG. “MỘT THỜI ĐỂ YÊU VÀ MỘT THỜI ĐỂ NHỚ”
Nguyễn Hiền-Đức
Thưa rằng…
Mãi đến nay, tôi chưa một lần được “diện kiến” anh Lê Ký Thương, nhưng tôi đã “quen”, đã “biết” và đã yêu thích những sáng tác của Anh từ lâu. Xem như tôi có cơ duyên được gặp gỡ Anh ấy vậy! Số là khi lang thang trên mạng, khi được bạn gởi cho những bài của anh, hoặc của các Tác giả viết về Anh tôi đều chăm chú đọc sau khi đã dàn trang (mis-en-page).
Bây giờ tôi nghĩ cần phải làm một điều gì đó về Anh theo sự mách bảo từ tâm cảm tôi. Thế là có được “tệp” này. Đây chỉ là một sự tập họp bước đầu những sáng tác của Lê Ký Thương và một ít bài viết về anh. Việc làm này chỉ là bước khởi động và còn ở phía trước.
Nội dung “Tệp” này gồm 3 phần chính:
Phần Dẫn Nhập: Bài viết của Đỗ Hồng Ngọc, Phan Vũ, Hai Trầu (2 bài), và Lời giới thiệu Tạp bút Lê Ký Thương của Trang Nhà Văn Việt.
Phần II: Lê Ký Thương: Trang Văn – Trang Đời
Tôi xin thưa trước điều này:
– Tôi chỉ gọi là Lê Ký Thương. Trước họ tên anh không có danh xưng nào. Gọi như thế người Quảng Nam chúng tôi gọi là “nói trỗng”, là thiếu tôn trọng, thậm chí là vô lễ. Nhưng tôi nào dám thất lễ đối với một người mà tôi cảm phục về tài, trí và tâm như Lê Ký Thương; chẳng qua là vì gọi Lê Ký Thương – Nhà Văn? Lê Ký Thương – Nhà Thơ? Lê Ký Thương – Họa Sĩ? Lê Ký Thương – Nhà Báo? Lê Ký Thương – Dịch giả? v.v… và v.v… tôi thấy nó thiếu thiếu cái gì đó, bởi vì tôi vẫn nghĩ Lê Ký Thương là sự tổng hợp nhuần nhuyễn, khắn khít, tài hoa và thơ mộng của những “Nhà” đó; rằng “Nhà” nào ở anh và của anh, đều xinh xắn, khang trang và mời gọi cả.
– Tôi rất thích đọc những trang viết thắm đẫm về Quê Nhà của anh, đó là những trang viết dạng hồi ức rất “nhớ cố hương lưu luyến tấc lòng” rất cô đọng và sâu sắc của anh. Rồi đến giai đoạn từ năm 1969, anh vào Sài Gòn lập nghiệp và tỏa sáng qua nhiều sáng tác của anh.
– Khi xem bản thảo “nháp” tệp này, ca sĩ Thu Vàng nhiều lần bảo rằng: “Anh Lê Ký Thương vẽ đẹp hết biết. Trước nay em thích tranh của họa sĩ Bé Ký và thời gian gần đây em rất thích xem tranh của anh Lê Ký Thương.”
– Tôi thấy cần ghi thêm ở đây rằng tôi là người lo bản thảo Tiếng Hát Thu Vàng -đã nhờ anh Lê Ký Thương chuyển lời cám ơn và biết ơn Chị Cao Kim Quy vì bài viết cực hay của chị về Thu Vàng.
– Câu kết trong bài “Nhớ Gió Tuy Hòa: Đúng là một thời để yêu và một thời để nhớ.” Vâng, “Một thời để yêu và một thời để nhớ” đó nó xuyên suốt, bàng bạc, ẩn hiện trong trang văn, trang thơ, trong các họa phẩm của Lê Ký Thương.
Phần III: Một Thời Ý Thức, Một Thuở Bạn Văn
Tôi rất muốn sưu tầm thêm nhiều bài về Tạp chí Ý Thức. Chắc chắn là tôi sẽ trở lại về chủ đề này vì với tôi, Ý Thức là một tạp chí sáng giá về nhiều mặt được thực hiện bởi những người mới vào tuổi đôi mươi, của một thời hoa niên thơ mộng. Một thời của tuổi trẻ “dấn thấn” đến với ngôi nhà thiêng Văn học Nghệ thuật, trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước.
Nhân đây xin cám ơn Nguyễn Thị Khánh Minh và Trần Thị Nguyệt Mai đã viết bài và gởi cho một số bài về Tạp chí Ý Thức mà tôi rất cần. Khánh Minh viết hay quá: tài hoa, sâu lắng, tinh tế và “cốt lõi” đến lạ! Đó là cảm nhận chân thành của tôi khi đọc 2 bài mới nhất của Khánh Minh viết về Nguyên Minh và Huỳnh Ngọc Chiến.
– Xin thưa thêm lời cuối này: Tôi không dám gọi đây là một Tuyển tập. Vì rằng, tôi thử gắng sức viết Thay Lời Vào Tập khoảng 20 trang, sau rút lại còn 14 trang. Đọc lại tôi thấy bài này thô vụng quá nên đã xóa sạch dù có tiếc công sức, có vỗ về những cơn đau cột sống khi tôi rị mọ làm “tệp” này. Tôi nhớ lại một đoạn trong bài viết của BS Đỗ Hồng Ngọc:
“Mới đây, Quán Văn số 53 giới thiệu ”Lê Ký Thương”, anh được mời lên sân khấu ngồi nghe và cười… trong im lặng.”
Vâng, Lê Ký Thương “ngồi nghe và cười… trong im lặng”.
Tôi liên tưởng đến “Niêm hoa vi tiếu” của Đức Phật Thích Ca và nụ cười của thị giả Ca-Diếp. Cũng chính vì điều này mà tôi đã bỏ bài “Đôi Điều Cảm Nhận Về Lê Ký Thương” vì thấy cần để Anh yên lặng và mỉm cười thôi.
Cuối bài, tôi xin mượn lời của anh Hai Trầu – Lương Thư Trung”
“Chính cái “đức thành thật”, óc quan sát tỉ mỉ, cách dùng chữ tinh xác và thuật miêu tả vừa phải mà tự nhiên trong những trang hồi ức của Lê Ký Thương, tác giả đã làm cho tôi thích thú và cảm động; và tôi tin chắc rằng, nếu bạn may mắn đọc được những trang văn ấy của tác giả, bạn sẽ đồng ý với tôi về nhận xét ấy và rồi bạn cũng sẽ thích thú và cảm động như tôi vậy!”
Anh Hai Trầu luôn tẩn mẫn, tỉ mỉ, chu đáo và chân thành với bạn văn nên tôi rất vui mừng và chia sẻ với anh về cảm nhận trên đây và đi theo anh và cùng với anh để đến với anh Lê Ký Thương.
Sáng nay, 14/06/2021 tôi nhận được bài “Trò Chuyện Với Nhà Văn Lê Ký Thương” của anh Hai Trầu. Tôi vui quá liền đưa vào Tệp này và vội vã gửi đi để mong được chia sẻ với các Sư huynh và các Bạn.
Tôi muốn đọc lại “tệp” này ít nhất là 2 lần nữa để sửa lỗi chính tả và kỹ thuật nhưng vì những cơn đau cột sống tôi chưa làm được, Vậy kính mong các Sư huynh và các Bạn thân thiết của tôi lượng thứ và sửa lỗi giúp cho.
Tôi đã, đang và sẽ tiếp tục làm nhiều tuyển tập nữa để mong thực hiện một phần nào lời dạy kín đáo và tế nhị của Thầy Nguyễn Hiến Lê và Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, rằng: “ĐỌC ĐỂ HỌC”.
Tôi đọc và xem những sáng tác của anh Lê Ký Thương trong tệp này cũng là cách tôi Học vậy!
Santa Ana, ngày 14 tháng 06 năm 2021
5 Hiền – Nguyễn Hiền-Đức
Cẩn bút
LÊ KÝ THƯƠNG: ”HÀNH TRÌNH NGHIỆP THƠ”
ĐỖ HỒNG NGỌC
Lê Ký Thương làm thơ trước khi làm họa sĩ, dịch giả… Năm 1974, anh ra mắt tập thơ: Bếp lửa còn thơm mùi bã mía ở Phan Rang và từ đó đăng nhiều thơ văn trên các báo ở Sài Gòn. Anh cũng là người làm maquette đầu tiên cho tờ Ý Thức, tạp chí Văn học nghệ thuật những năm 70 của nhóm anh em Nguyên Minh, Lữ Kiều, Châu Văn Thuận, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Nguyễn Mộng Giác, Đỗ Nghê, Lê Ký Thương…
Mấy năm trước, anh bị một cơn stroke, liệt nửa người phải, nhờ tích cực tập luyện với một ý chí cao nên phục hồi khá tốt. Thế rồi, một hôm đạp xe đi bơi, anh bị té gây chấn thương sọ não… Anh nói bây giờ chỉ với một tay, anh dư sức lo cả… gia đình!
Đi lại, nói năng hơi khó, nhưng lạ, trí nhớ tuyệt vời. Như một cuốn tự điển bách khoa về ”văn học nghệ thuật”. Anh nhớ vanh vách ai, làm gì, ở đâu… đời sống riêng tư ra sao! Thiệt lạ.
Mới đây, Quán Văn số 53 giới thiệu ”Lê Ký Thương”, anh được mời lên sân khấu ngồi nghe và cười… trong im lặng.
Anh vừa in một tập thơ dày đến 250 trang: “Trò Chơi Trời Cho. Hành Trình Nghiệp Thơ” *. Tự design, tự layout… còn sửa morasse đã có Kim Quy phu nhân lo (nhưng nghe nói giờ chót chàng không cho sửa…!), và in ấn thì đã có Nguyên Minh.
Xin giới thiệu với bạn bè.
Lê Ký Thương, nói chung, là một người hiền lành, còn nói riêng thì hổng biết…!
Đỗ Hồng Ngọc
June 19, 2021
Lắng nghe âm thanh của yên lặng
Lắng nghe âm thanh của yên lặng
Bs Hồ Đắc Đằng
Một buổi sáng mùa đông năm nọ, một hiện tượng kỳ lạ, chưa từng thấy đã xảy ra ở thác Niagara, NY. Hoàn toàn yên lặng. Một trong ngũ đại hồ, hồ Erie bị đóng băng không còn đổ nước xuống thác được và cả Niagara trở thành một tường đá đong cứng. Cái tiếng động ầm ỉ của thác đổ ngàn năm hôm đó nhường chỗ cho yên lặng hoàn toàn. Điều nầy không có nghĩa là cái yên lặng đó đã không có từ trước mà chì mới sinh ra buổi sáng mùa đông năm đó. Nó đã có từ lúc thác Niagara mới hình thành từ ngàn năm. Chỉ có điều người ta không ai để ý lắng nghe nó; Nó bị một chuỗi dài tiếng động che giấu nó. Bạn làm gì khi bạn đi kinh hành (walking meditation)? Bạn chú tâm vô cái động tác bước , hay cái tiếng động làm ra bởi cái bàn chân khi nó chạm sàng gỗ hay thảm? Cái chú tâm nầy nó liên tục hay nó có lúc nó gây ra tiếng động, làm cho bạn hay biết bước nhanh hay chậm ; và không có lúc bàn chân bạn còn chưa đụng sàn ? Dĩ nhiên là liên tục, cả chân đụng sàn hay chưa đụng sàn. Du khách của thác Niagara không phải hành giả kinh hành. Họ chỉ nghe được khi có tiếng động và có cái ảo tưỏng là cái gì không làm ra tiếng là không có.
Lắng nghe, hay biết mà không nghe gì cả
Khoảng 400 bác sĩ chăm chú nghe một thuyết trình viên hôm đó ở một buổi hội thảo CME tại Harvard năm 2015. Tôi là một trong nhóm ngồi nghe. “ Khi tôi hỏi quí vị có nghe không thì quý vị trả lời nhé”. Deepak Chopra báo cho toàn thính giả.
Quý vị nghe không?Nghe “. Chúng tôi hớn hở la toBây giờ hãy nghe cho kỹ. Khi tôi hỏi “ Quý vị nghe không ?” thì khoang trả lời. Hãy lặng thinh, chờ cho đến khi tôi đưa ngón tay trỏ phải lên trời thì chừng đó mới trả lời nhé “. Sau đó thì ổng hỏiQuý vị nghe không? Toàn thể im phăng phắc, hoàn toàn im lặng trong thính đường. Chúng tôi tuân lệnh, chăm chú nhìn ổng. Khoảng chừng 90 giây đồng hồ sau, ổng chỉ ngón tay trỏ phải lên trời. Chúng tôi đồng thanh la to:Nghe”Deepak Chopra tuyên bố: “ Cái khoảng thời gian 90 giây đó là pure awareness “.
Tôi hiễu ổng muốn nói tôi đã lắng nghe một cái hoàn toàn tĩnh lặng. Cả không có chấn động của âm thanh trong không khí mà cũng không có dao động trong ý tưởng. Yên lặng bên ngoài là một sự vắng mặt của tiếng động âm thanh. Định là một sự đứng lại của ý tưởng. Đó là Samadhi, hay còn gọi là stillness.
Hôm lễ Phật đản 26/5 vừa rồi, thiền sư Ajahn Amaro, đệ tử của Ajahn Chah, được mời giảng Dharma tại trụ sở Liên hiệp quốc tại NY.
Người thế tục hay xưng tán mấy cái mầu nhiệm lúc đức Phật đản sanh, như mới sanh đã đi 7 bước và có 7 đoá hoa sen nở dưới chân ngài. Cái mầu nhiệm thật sự mà đức Phật đã cống hiến cho nhân loại là cái ngài tìm thấy có sẵn trong tâm thức của mỗi người. Một cái hiện tượng hết sức bình thường mà không ai để ý. Đó là: “the feeling arises and passes away; The perception arises and passes away “.
Khoảng yên lặng giữa hai tiếng động và khoảng trống không giữa hai niệm.
Cái yên lặng đầy ý nghĩa của thác Niagara đóng băng là cái tương đương của chú tâm, lắng nghe lệnh giơ ngón tay của Deepak Chopra trong 90 giây đồng hồ.
Cái ngàn năm yên lặng của Niagara không ai hay . Chỉ hay biết là nó có thật trong hai ngày . Sau đó lại chìm đắm trong thế giới của âm thanh. Hay biết < awareness > cái khoảng trống không , emptiness, giữa 2 niệm, cái trước đã qua mà cái kế tiếp chưa đến, là cái khả năng nghe được cái đứng yên, dừng lại của vô niệm mà Đỗ Hồng Ngọc nói. Nghe cái không động của Deepak Chopra làm thí nghiệm. Nghe cái Samadhi của các thiền sư như Dipa Ma. Nghe cái “ Stillness speak” của Ekkhart Tolle.
(HĐĐ)
8.6.2021
June 16, 2021
Nhà thơ Khánh Minh viết cho Huỳnh Ngọc Chiến
Nguyễn thị Khánh Minh
MẦU HOA TÍM VÀ GIẤC MỘNG DÀI
Những ngày cuối của mùa xuân ở Santa Maria vẫn còn hơi lạnh, khi nắng chưa lên nhiệt độ thường là 57 độ, mỗi sáng đi bộ quanh sân nhà tôi vẫn phải mặc áo khoác, có một sáng bỗng thấy một đốm vàng le lói ở cuối sân, lại, thì ra một đóa daffodil muộn, dư âm diễm ảo của ngày đầu mùa daffodil tháng 3, mà lạ thay phút hiện tiền hội ngộ ấy lại kéo tôi tuột về thời gian xa lắc xa lơ, thời của cơn gió thơ mộng tuổi trẻ thổi vào tuổi mười tám hai mươi tình yêu lạ kỳ lặng lẽ, mà quyến luyến biết mấy thời gian, hóa ra tôi chẳng phải đệ tử biết nghe lời Phật -Biết Sống Một Mình, vững chãi tự tại trong hiện tại- mà lại đang ngu ngơ trong cái “bây giờ và ở đây”… chỉ vì chút mầu vàng daffodil kia quyến dụ mầu áo lụa vàng hoàng hoa thuở nọ theo về khiến lòng người cứ dài ra theo thời gian huyễn mộng. Vâng, thời gian. Đấy đôi khi trong cõi phù du này, cái níu được ta chỉ là chút mầu vàng của một đóa daffodil nở muộn, cho ta cảm thấy sung sướng rằng, chập chùng nhạt phai mà nắng vẫn mang trong nó ánh lung linh từa tựa vĩnh cửu, gió vẫn thổi lao xao cái mầu vàng như thể là trăm năm… Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua, sân trước một nhành mai*…Vậy thì làm sao còn bị đánh động bởi lẽ đến đi còn mất trong vòng tròn của tự nhiên tuần hoàn thay đổi? Cái đi kia là khởi đầu, là chuyển hóa cái đến. Cánh hoa rụng tàn trên đất với nụ hoa vừa hé nở chỉ cách nhau một màn sương mỏng ban mai. Tôi cảm nhận thật sâu thật thấm cái mầu nhiệm ấy, khi ở vào thời điểm này, đón cháu bé Bennett vừa chào đời, tiếng khóc oa như khóa sol bắt đầu một bản nhạc diệu kỳ của khai mở, mỗi ngày kề cận Ben bé nhỏ như nụ hoa chớm nở trong bình minh tôi miên man cảm giác mới mẻ của sự khai sinh, và thấy thật là tuyệt đẹp cái điểm tinh sương của chu kỳ đến đi. Vâng, em bé sơ sinh là khải thị nhiệm mầu của đến.
Và rồi, một ngày, từ phương xa kia, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc báo tin về sự đi. Nhà giáo, nhà văn nhà thơ nhà biên khảo dịch thuật -chưa kể đàn hát- Huỳnh Ngọc Chiến đã ra đi. (Cũng từ anh Ngọc mà tôi quen được anh Chiến qua email, và chỉ một thời gian ngắn ngủi). Anh đã tiên liệu và sửa soạn ngày chia tay, tôi không muốn dùng chữ dũng cảm, mà là an nhiên, đón nhận cái phù du đang từng phút giây cợt đùa tấm thân tứ đại. Nhưng thân hữu đón nhận vô thường ấy với bao buồn thương tiếc nhớ, không sao được, với một tài hoa như thế! Cũng nói, hôm rời Santa Ana để đi đến đây, tôi đem theo hai cuốn sách, một của Nguyên Giác, Từ Huyền Thoại Tới Tâm Kinh. Một của Huỳnh Ngọc Chiến, Rong Chơi Cùng U Mộng Ảnh, với tập này, đang đọc đến câu 5 của Trương Trào: Vì trăng mà lo mây, vì sách mà lo mối mọt, vì hoa mà lo gió mưa, vì tài tử giai nhân mà lo mệnh bạc, đó thực là tấm lòng Bồ Tát vậy” ** thì tin buồn đến. Hỏi ai ưu tư đến cái đẹp và tài hoa mà không khỏi ngẩn ngơ ngậm ngùi khi những vưu vật ấy bất hứa nhân gian kiến bạch đầu? ***.
Mới hồi tháng 2 đây thôi, khóc một bạn hiền, nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, tôi đã viết: Điểm lung linh mà có thể trong một sát na tương cảm là ta có thể nghe, có thể thấy, là không sinh không tử. Điểm hạnh ngộ của chấm ngàn thu và nốt rạng rỡ trùng sinh. Chỉ một màn sương mỏng thôi… (2.2021)
Vâng. sương khói, mỏng tang mà nghìn trùng…
Hôm nay, chỉ vừa mới qua tuần thứ nhất kể từ khi Huỳnh Ngọc Chiến mất (ngày 1.6.2021), nhân anh Năm Nguyễn Hiền Đức báo tin đang soạn tập tưởng niệm Huỳnh Ngọc Chiến và gửi cho tài liệu thơ văn của Huỳnh Ngọc Chiến, thôi thì xem như tôi đang rong chơi vào cõi thơ văn trong giờ phút đối mặt với sinh tử của anh, mà anh đặt tên là Ngọa Bệnh Cảm Tác, anh khởi viết từ năm 1996, mở đầu là bài thơ lục bát được viết ngay trong bệnh viện, trước khi mổ:
Bệnh rồi ta mới thấy ra
Sinh là thế ấy, Tử là thế thôi
Đã qua ba cửa quan rồi
Vẫn chưa hết được cuộc chơi Ta Bà
Cửa thứ tư chắc không xa
Bước vào sẽ thấy đâu là Quê Hương.
Giờ này nơi cửa thứ tư ấy hẳn anh đang mỉm cười nhìn mờ xa cõi vừa mới đây thôi anh gọi là cuộc chơi ta bà, và tôi có cảm tưởng như nhắm mắt lại tập trung hẳn sẽ được thấy, để mà nhắn gửi anh những lời này và hỏi anh về mây trắng miền cố lý, có phải mối tương tư bao năm nơi cõi trần ai nay đã được mở gút rồi không. Mừng thay cho kẻ, bước vào sẽ thấy đâu là Quê Hương.
Đến tháng 8 năm 2020, Huỳnh Ngọc Chiến bị ung thư thực quản. Sau những lần hóa trị mà anh gọi là “một trải nghiệm kinh khủng”, mà sau đó vẫn nói: “Chỉ buồn chút là thanh quản bị ảnh hưởng nên hiện vẫn chưa nói còn rất yếu, và vĩnh viễn không thể hát hò như cũ!!! Cũng không sao, vì vẫn còn cây đàn làm bạn!” hầu như suốt thời gian anh sống cùng con bịnh anh đều mang tâm thái như thế, biết vui với những gì mình đang có ở hiện tại, cho dù biết rõ rằng mỗi ngày mình mỗi mất nhiều hơn sức lực. Vì đâu mà anh có một nội lực an nhiên mạnh mẽ như thế?
… Mọi chuyện trong đời xem như đã tạm tròn bổn phận nên tôi giờ rất xem nhẹ lẽ tử sinh. Chỉ mong sao sinh thuận tử an. Để tiếp tục chu kỳ sinh hóa khác trong vũ trụ…
… Trong những cơn đau quặn thắt vị hóa trị, tôi vẫn hoàn tất được bộ kinh Lăng Già đối chiếu. Và thấy lòng thanh thản vô cùng. Tôi mang ơn kinh Phật đã đem lại cho tôi những huyền lực để giúp tôi tìm được thanh thản giữa những cơn đau khủng khiếp đến kiệt sức…
… Khi dịch xong cuốn kinh Lăng Già, và được một nhà xuất bản nhận in, thì tác phẩm L’Enseignement de Vimalakīrti – bản dịch cuốn kinh Duy Ma sang Pháp ngữ từ Tạng ngữ – của Étienne Lamotte lại cuốn hút tôi. Và tôi lại bắt tay vào dịch bộ kinh phương đẳng kỳ diệu này. Tôi xem đây như là một Cuộc Chơi Chuyển Nghiệp khi tiếp cận bến bờ sinh tử… (Trích từ Ngọa Bệnh Cảm Tác)
Sức mạnh cho anh nương tựa là đấy, huyền lực của kinh Phật! Trong cơn đau khổ hoạn nạn nếu có ánh sáng của niềm tin này thì như chiếc đũa mầu nhiệm đã gõ vào ta giúp ta nghị lực để sống với, hay có thể là vượt qua, tôi tin như vậy vì cũng có đôi chút kinh nghiệm khi lâm vào một lúc trầm cảm. Và điều này đối với Huỳnh Ngọc Chiến là một xác quyết, lúc đang đau đớn thể xác như thế, tinh thần ấy vẫn là chất nuôi dưỡng anh sức sống làm việc, sáng tác, mà anh gọi một cách thống khoái là Cuộc Chơi Chuyển Nghiệp… Ôi là tài tử tài hoa Huỳnh Ngọc Chiến! Tài hoa mà uyên bác nữa thì hẳn người đó đã Phước Huệ song tu****.
Gượng đau ngồi dịch Lăng Già
Xong, lại mơ cõi Duy Ma phiêu bồng
Để mai về bến sương hồng
Trong tâm còn lại đôi dòng chân kinh
Bước chân qua cõi tử sinh
Bước chân qua cõi tử sinh, thì ô kìa, điểm hạnh ngộ của chấm ngàn thu và nốt rạng rỡ trùng sinh. Vâng, đây là mặc khải huyền vi của Đi. Cuộc đi đẹp quá với mang mang lồng lộng chân kinh mà phiêu hốt sương hồng, anh Huỳnh Ngọc Chiến ơi, hãy nói thế nào là sương hồng?
Sáng ni lên chín tầng trời
Ngồi nghe thiên cổ kể lời biển dâu
Muốn cho cuộc sống nhiệm mầu
Mỗi giây phút phải xanh màu thiên thu
Để khi vào cõi sa mù
Sẽ bay như hạt mưa thu nhẹ nhàng
(HNC, Hóa Trị Lần 1, Ngày 9/9 lên lầu tầng 9, ngồi ghế số 63, hoá trị cả ngày, ngẫu hứng làm thơ)
Tôi nhớ lời Phật Thích Ca dạy trong kinh Người Biết Sống Một Mình. Hiện pháp lạc trú, Muốn cho cuộc sống nhiệm mầu/ Mỗi giây phút phải xanh màu thiên thu… Không ưu tư mình sẽ ra đi mà tận hưởng cái xanh hạnh phúc đang là, ngay ở phút giây hóa trị…
Hôm nay tóc rụng hết rồi
Lần hai hóa trị, lại ngồi thi gan
Vội ghi đây một vài hàng
Xem như gởi lại trần gian đôi lời
Mai đây khởi sự xa đời
Cơn Mơ nào sẽ đưa người ngàn thu?
Xin khi vào cõi Không Hư
Hóa thân thành một lời ru dịu dàng
Bao nhiêu mộng ước dở dang
Sẽ thành tựu với Cung Đàn Trùng Sinh.
(HNC, Hóa Trị Lần 2, Ngày 2/10, hóa trị lần 2, cảm xúc làm thơ)
Người tuyệt mơ mộng… Mơ cơn mơ đưa mình về ngàn thu, một ra đi nhẹ nhàng để rồi chuyển hóa thành lời ru dịu dàng. Và nhân gian ai có nghe? Lời ru bất tuyệt lãng mạn của ánh trăng với tiếng dương cầm lung linh Beethoven? Lời ru buồn sâu đêm của mưa thưa trên tàu lá chuối cạnh thư phòng xưa chàng ngồi dịch kinh? Ôi, những lời ru dịu dàng hóa thân của người, một mất mà hóa hiện trùng trùng… Sinh tử kia, điểm hạnh ngộ của chấm ngàn thu và nốt rạng rỡ trùng sinh, thì tâm ước Bao nhiêu mộng ước dở dang/ Sẽ thành tựu với Cung Đàn Trùng Sinh, sẽ viên thành, sẽ từ tinh anh ấy mà họp lại nên tài hoa… Nói tới đây tôi cảm động muốn khóc.
Hôm nay hóa trị đợt ba
Bước xuống ghế bệnh mắt hoa, quay cuồng
Cười ta quen thói phiêu bồng
Bây giờ dừng vó ngựa hồng nơi đây
Giang hồ bao cuộc tỉnh say
Mây đưa tiếng hát, khói bay cung đàn
Cuối đời phiêu bạt phương nam
Cần Thơ sông nước ngọt trầm cải lương
Bến Tre nhớ bóng tà buông
Sài Gòn hòa tiếng hát buồn Bạc Liêu
Tam Kỳ phố cũ thương yêu,
Vui trưa Đà Nẵng, say chiều Hà Lam
Ta nhàn du cõi trần gian
Rong chơi cùng với cây đàn guitar
Dịch kinh, viết sách gọi là
Lưu chút tặng vật làm quà thế gian
Bận tâm chi chuyện hợp tan
Sinh là nắng gió, tử ngàn hoa bay
Đến như hoa thắm bên này
Đi thành hương ngát tháng ngày bên kia
Một làn sương mỏng cách chia
(HNC, Hóa Trị Lần 3, Sáng 23/10 hóa trị đợt 3, từ 7h đến 13h, làm thơ… chữa bệnh)
Hài hước là cách hay nhất để hóa giải và cho ta chịu đựng một cách nhẹ nhàng những cảnh ngộ khó khăn, những tình huống tréo ngoe, như lúc này đây: Cười ta quen thói phiêu bồng/ Bây giờ dừng vó ngựa hồng nơi đây… Hẳn vó ngựa hồng một thời đang mỉm cười với chân ghế xạ trị hôm nay. Luôn luôn trong phút đối mặt với tử sinh, Huỳnh Ngọc Chiến hầu như không nghĩ đến cái mất đi, nỗi chia xa, Bận tâm chi chuyện hợp tan/ Sinh là nắng gió, tử ngàn hoa bay… Tôi nghe nắng gió hoa bay xao xuyến đất trời… Trong một bài giảng của sư ông Nhất Hạnh nói, tất cả các pháp luân phiên chuyển hóa, chẳng có gì gọi là còn là mất, hạt nước bốc hơi thành mây, mây tan thành mưa… Và người tài hoa kia thì Đến như hoa thắm bên này/ Đi thành hương ngát tháng ngày bên kia… Cõi nào người cũng Có Mặt, Thực Sống. Diệu nghĩa thay đi đến ấy! Cũng vậy, trong bài thơ In Flanders Fields, bác sĩ quân y John McCrae, chứng kiến bao cái chết của những người lính, giữa hàng bia mộ, ông cũng thấy được phục sinh huyền ảo ấy:
Trên cánh đồng Flanders
Giữa những hàng hàng bia mộ
Hoa poppies nở
Dập dờn
Đánh dấu nơi chúng tôi yên nghỉ
Trên trời
Những con sơn ca vẫn can đảm hót
Tiếng hót chợt vang lên đôi lúc
Giữa tiếng đại pháo rền dưới kia
Chúng tôi là những người vừa mới chết
Chỉ mấy ngày trước đây
Nhưng chúng tôi vẫn sống
Để cảm nhận bình minh
Thấy được ánh hoàng hôn
Yêu và được thương yêu
…
(John McCrae, In Flanders Fields, Nguyễn Xuân Thiệp dịch)
Có được tuệ giác của vô thường, John McCrae mới nhìn ra sống chết chan chứa xúc cảm như thế, để gặp gỡ với Huỳnh Ngọc Chiến, cõi đây anh là hoa thắm, cõi kia anh là hương ngát… và trên cánh đồng hoa poppy vàng ngát bia mộ Jon McCrae vẫn nghe trong gió: chúng tôi vẫn sống để cảm nhận ban mai, chiều tà… Thật mang mang huyễn lộng tử sinh trong mấu chốt ngọt bùi miên viễn yêu và được thương yêu. Nó là gì nếu không là sức mạnh cho ta lúc sống được nương tựa bình an, là sợi tơ kết gắn người đi xa và kẻ ở lại, là hạt mầm nuôi nấng bao lời hẹn cõi mai. Trong bài Lời Cuối của Huỳnh Ngọc Chiến, anh cũng đã nói về hạnh phúc yêu và được thương yêu này.
… Tôi cũng sắp từ giã mọi người để xuống một bến ga. Trên chuyến xe đời ở kiếp này, giữa bao trầm luân trôi nổi, tôi thấy mình là lữ khách hạnh phúc. Tôi đã vào đời bằng tiếng khóc giữa tiếng cười của cha mẹ, người thân, bây giờ sẽ ra đi bằng nụ cười giữa sự thương yêu của người thân, bè bạn, v.v… Hạnh phúc đó đâu phải ai cũng có thể có được đâu?
… Mọi người rồi sẽ trải nghiệm được rằng chết là bước chuyển để nối tiếp cuộc sống theo một thể điệu khác, trong chu kỳ sinh hóa vô cùng.
Tôi xin cảm ơn tất cả những người, trong gia đình lẫn ngoài đời, từ những bậc đàn anh đến thân hữu, học trò, đồng nghiệp, v.v… đã gặp gỡ và thương yêu, quý mến tôi trong chuyến rong chơi giữa cõi Ta Bà này. Trong kiếp sau, hay nhiều kiếp sau nữa, nếu có duyên chúng ta vẫn có thể gặp lại nhau.
Đến lúc này, tôi thấy cái Chết cũng chỉ là cái sân khấu ở nơi khác để tôi bước lên chơi đàn như trong đêm nhạc Cung Trầm, mà nhóm bạn thân tổ chức cho tôi vào đêm 28/12/2019 tại Tam Kỳ. Chỉ hơi hồi hộp chút xíu vì có thể tôi sẽ gặp những người khách lạ! (Lời Cuối, HNC viết ở Tam Kỳ 5/5/2021)
Đón nhận sự ra đi như thế, thì quả thật là tử an, thưa anh. Và khi anh đã nói chết là bước chuyển để nối tiếp cuộc sống theo một thể điệu khác, trong chu kỳ sinh hóa vô cùng, đó phải chăng là bất sinh bất diệt, thường trụ, chân không diệu hữu? Với tâm thái niết bàn ấy thì sự ra đi kia nhẹ nhàng như chiếc lá rơi trong tiếng gió, tiếng chuông, tiếng nhạc cổ điển (mà anh hằng ưa thích). Và hẳn là màu tím của buổi nắng chiều cũng hòa theo, tiếp tục lao xao trong cõi mộng dài khác, để lại sinh ra một tài hoa?
-o-o-o-
Trong email ngày 29 tháng 5 -ba ngày trước khi qua đời-, anh HNC đã viết cho tôi:
“Tôi thích nhất hai câu: Mầu hoa tím ở trên đồi/Thường về lao xao trong giấc ngủ (NTKM). Tôi cũng mơ màu hoa tím và tiếng nhạc cổ điển lao xao trong Giấc Mộng Dài của đời mình.” Mầu hoa tím và Giấc Mộng Dài tôi dùng làm tiêu đề cho bài viết tưởng niệm Huỳnh Ngọc Chiến không có nghĩa gì đặc biệt ngoài chất thơ mộng của hình ảnh, biết đâu nhờ chiếc cầu thơ mộng này tạo nên một túc duyên mà anh nói trong một email: “Mong kiếp sau chúng ta được là bạn” và tôi sẽ được hưởng một cái thú sống đẹp theo Trương Trào “nguyệt hạ thính guitar thanh” ** của một người bạn tài hoa. Thưa anh Huỳnh Ngọc Chiến, tôi viết bài này trong nỗi niềm chia sẻ, nếu không muốn nói là tri âm, của một người bạn.
Santa Maria, June 12, 2021
ntkm
*câu thi kệ của Thiền sư Mãn Giác, Ngô Tất Tố dịch
**Huỳnh Ngọc Chiến, Rong Chơi Cùng U Mộng Ảnh, tr.88. tr.94 (Nguyệt hạ thính tiêu thanh, dưới trăng nghe tiếng tiêu)
*** Nguyễn Công Trứ: Giai nhân tự cổ như danh tướng/ Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu (Tự ngàn xưa, giai nhân cũng như danh tướng, không để nhân gian thấy sống đến lúc bạc đầu -Huỳnh Ngọc Chiến dịch-)
****Huỳnh Ngọc Chiến, Ngọa Bệnh Nhàn Đàm, câu 32
June 12, 2021
Thơ Phạm Thiên Thư “Mười con nhạn trắng về tha”
Thư gởi bạn xa xôi
11.6.2021
“Mười con nhạn trắng về tha”(Động hoa vàng, Phạm Thiên Thư)
Câu hỏi của bạn hơi “ác” đó nha. Đây là 4 câu thơ mở đầu của bài thơ Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư, bài thơ dài tới 100 khổ, mỗi khổ 4 câu lục bát đẹp như mơ mà ai cũng biết… Cho đến nay đã có hàng trăm bài viết về Phạm Thiên Thư với Động hoa vàng này đó. Mà hình như chưa có ai hỏi như bạn đã làm khó mình hôm nay. Bạn biết đó, mình chẳng phải nhà phê bình văn học, nhất là phê bình thơ… Bởi thơ là để cảm nhận, để rung động… chớ không phải để phân tích, để bình giảng… Nói thì nói vây chớ người yêu thơ vẫn cứ vừa cảm nhận, vừa rung động vừa bình giảng… để thấy cho hết cái đẹp cái hay, để rồi được rung động 6 cách “nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý” cũng chẳng khoái ru?
Mười con nhạn trắng về tha
Như lai thường trụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm…
Bạn hỏi mình tại sao nhạn trắng, tại sao mười con mà không phải tám chín con hay trăm con? Tại sao “về tha”? Tha ai? Tha cái gì? Tại sao tha?
Rồi “Như lai thường trụ” là sao? Vô thường, vô ngã, “vô sở trụ” mà sao còn trụ?
Rồi bạn cho rằng “Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền/ Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm” thì ai cũng hiểu cả rồi. Mái tóc huyền óng ả chảy mượt như suối của nàng thiếu nữ xinh đẹp. Làm nhớ “vai gầy guộc nhỏ” của Trịnh Công Sơn! Còn “Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm” đâu cần phải giải thích thêm! À, nhưng mà “miền tuyết thơm” ở đâu vậy? Có trời mới biết, ủa không, có nhà thơ mới biết. Làm nhớ Văn Cao: “Chúng em xin dâng hai chàng trái đào tiên…”.
Tóm lại là bạn chỉ “quay” mình vài chỗ “bí hiểm”: Mười con nhạn trắng về tha là sao?Tại sao mười, tại sao tha…? Và tại sao Như Lai thường trụ?
Ối trời. Mình bí quá. Bèn phải mượn “quyền trợ giúp”.
Phạm Thiên Thư (PTT) bây giờ không xài Điện thoại, chẳng có email, giữa mùa Cô-vi giãn cách này cũng không trực tiếp đến gặp được. Lại nghe nói ông bắt đầu quên nhiều sau mấy lần tai biến.
Mình liền hỏi nhà thơ Trụ Vũ, vốn chỗ thân thiết với PTT. Ông trả lời ngay: “Tha” ở đây là “khác”, phương khác. Câu này có nghĩa là mười con nhạn trắng bay về phương khác…
Không yên tâm lắm, mình bèn hỏi Lam Điền, nhà báo, nhà thơ, ở báo Tuổi Trẻ. Lam Điền khuyên: “Tranh thủ lúc tác giả còn sống nên hỏi trực tiếp cho chắc đi bác ơi, mọi suy đoán về thơ thường do không còn tác giả để hỏi”. Chí lý. Nhưng có trường hợp như TTKH, không biết tác giả là ai thì biết đâu mà hỏi! Có khi tác giả Alzheimer quên hết rồi thì sao?
Bèn hỏi Linh Thoại, nhà báo, phụ trách mảng văn học báo Tuổi Trẻ. “Dạ con cũng không rõ ý nhà thơ chú ơi, để con hỏi thầy Huỳnh Như Phương”.
Huỳnh Như Phương là nhà phê bình văn học nổi tiếng, đã nghiên cứu về PTT kỹ chắc chắn phải biết rồi. Hy vọng.
Thầy HNP trả lời Linh Thoại: “Thầy chịu thua. Thiền sư Đỗ Hồng Ngọc mà không giải thích được thì làm sao mình giải thích. Chờ qua dịch gặp ông PTT hỏi ông. Mà có khi ông cũng không giải thích được!”.
Mình đùa với Linh Thoại: Ông PTT chắc cũng sẽ biểu về hỏi “thiền sư”ĐHN đi! Bởi ông cũng quên hết rồi! Dĩ nhiên chú Ngọc giải được quá đi chớ! “Thiền sư” mà!
Linh Thoại cười: Vậy chú giải cho con nghe với. hihi.
Mình “cầu cứu” nhà thơ Đỗ Trung Quân. Quân ơi, cho anh hỏi chút nhe: PTT trong bài thơ Động hoa vàng có câu đầu tiên: “Mười con nhạn trắng về tha…” nghĩa là sao, nhất là chữ “tha” khó hiểu quá?
ĐTQ trả lời liền: Theo em cảm nhận thì mười con nhạn trắng PTT chỉ 10 ngón tay hoa vẽ trên luân chuyển tiết mùa, nhưng chỉ là cảm nhận vì em không nghiên cứu Phật học…
Mắt mình sáng ra: À há! Rất hay rồi đó!
ĐTQ thêm: Câu sau hình như là “vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền/ Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm…” cái nhìn Phật học cũng lại là ẩn dụ của suối- mây- rừng… em nghĩ thế.
Mình mừng rỡ: Hay lắm ĐTQ! Anh nghĩ anh bắt đầu giải được rồi đó! Cảm ơn em.
Dù vậy, mình cũng thử hỏi nhà thơ Phật tử thuần thành Tôn Nữ Hỷ Khương xem sao, chị bảo “Bs Đỗ Hồng Ngọc mà không biết thì Hỷ Khương làm sao biết được!”.
Ối giời!
Thôi thì hỏi thêm nhà thơ Khánh Minh ở tận nửa vòng trái đất bên kia, người cũng rất thân quen PTT. Khánh Minh trả lời: “Anh Ngọc ơi, anh mà không biết thì em biết… chết liền! Xưa em rất thân với PTT, phải gọi bằng chú, nhưng em không đọc Động hoa vàng. Em chỉ thích tập thơ 4 chữ thôi. Tại sao là “mười”, tại sao “về tha” và Như-lai thì sao “thường trụ”?
Khánh Minh thắc mắc nữa!
Tóm lại, góc độ “thơ” thì không xong rồi. Còn góc độ “thiền” thì sao?
Mình hỏi chuyện tu hành của PTT cho rõ nguồn cơn, Google trả lời:
Đi tu, thực ra với ông không hẳn là tìm một chốn nương náu, mà ông ngộ ra một điều, ông đã tự tìm cho mình một cõi riêng, một kiểu tu hành riêng…
Ông viết Động hoa vàng những ngày đầu ngấm giáo lý nhà Phật, như đánh dấu mình vào một cõi của chính mình trong thi đàn. Dĩ nhiên, Động hoa vàng chưa hẳn là tác phẩm xuất sắc nhất trong đời viết của Phạm Thiên Thư, nhưng nó đã làm nên một “thương hiệu” của Phạm Thiên Thư. Những câu thơ đẩy cái đạo đời bềnh bồng trên cõi Phật, làm hiện hữu cái cuộc đời đáng sống trên cái mênh mang bao la của phù vân hư ảo.
Nhiều người đã cho rằng Phạm Thiên Thư đi tu mà lòng vẫn hướng về cõi tục. Ông chỉ cười: “Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình”. Quả thực là từ cõi Phật, ông đã làm được những điều đáng nể: thi hóa kinh Phật, sáng tác những thi phẩm hay và đẹp thuộc diện hiếm hoi trong văn học Việt Nam…Thơ của ông được nhiều người có tên tuổi trong giới và rất nhiều bạn đọc mến mộ… (//vi.wikipedia.org/wiki).
Tìm hiểu sâu hơn về PTT không gì bằng tham khảo nhà văn Nguyễn Thu Trân, người đã có những buổi tiếp xúc , gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với nhà thơ nhiều năm qua (trích). Thu Trân viết:
“Từ Động hoa vàng, người yêu thơ Phạm Thiên Thư cũng mờ mờ ảo ảo với “tu sĩ lãng mạn” Thích Tuệ Không bởi những dòng tự bạch:
Hỏi con vạc đậu bờ kinh
Cớ sao lận đận cái hình không hư
Vạc rằng thưa bác Thiên Thư
Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ…
Hỏi: Thưa, ở đây là nhà thơ hay nhà sư ỡm ờ?
Đáp: Cả hai, từ ỡm ờ ở đây có nghĩa tôi ra đi từ đời và trưởng thành từ đạo. Trong tôi, đạo và đời là một. Trong 9 năm ở chùa (1964-1973), tôi- tức nhà sư Thích Tuệ Không đã tiếp cận tư tưởng nhà Phật và triết lý Phật giáo là phần lớn tinh thần sáng tác của tôi. Triết lý Phật giáo cũng không ngoài những hạnh phúc, khổ đau của con người. Một đời sống hoà bình, thanh thản với cái thiện luôn đẩy lùi cái ác… cũng là mục đích thơ Phạm Thiên Thư hướng đến. Phật giáo khi hòa nhập vào cuộc sống thì đã trở thành một giá trị văn hóa chứ không đơn thuần là tôn giáo.
Hỏi: Vì sao cậu học trò Phạm Kim Long lại trở thành nhà sư Thích Tuệ Không?
Đáp: Tôi sinh năm 1940, quê Thái Bình nhưng đã là người Sài Gòn từ năm 1954. Thời sinh viên mê văn chương thơ phú, tôi sáng lập và tụ tập bạn bè vào Học hội Hồ Quý Ly. Việc lập hội đoàn này khiến tôi luôn bị cảnh sát chế độ Sài Gòn chú ý, thế là để được yên thân, tôi đã ẩn vào chùa để tu. “Tu bất đắc dĩ” mà ngộ ra kinh Phật, ngộ ra chuyện thiền rất nhanh nên tôi thấy mình là người may mắn, tôi sớm nhận ra điều, nhà chùa không phải là nơi tôi nương náu để qua cơn bỉ cực mà là một cõi riêng, rất riêng để tôi tha hồ bay bổng từ những điều ngộ ra chính mình và cuộc sống chung quanh:
Hỏi: Sau kinh kệ, thơ nhạc… rồi đến hớt tóc, bán tạp hóa, bán cà phê kiếm sống; thi sĩ Phạm Thiên Thư còn nổi tiếng nhờ tài chữa bệnh?
Đáp: Tôi nghiệm ra phương pháp chữa bệnh điện công Phathata từ những cách tham thiền, vận nội công và yoga. Những tiền đề này tôi tích lũy được từ những ngày học võ (bố tôi là thầy thuốc dạy võ) và thời gian tầm sư học đạo ở Thất Sơn (Bảy Núi-An Giang); cũng không thể không kể thêm ở đây sự kết hợp với võ Bình Định, gồng Châu Quý, thiền Mật Tông… Phathata là phương pháp tập luyện nhân điện; tự điều chỉnh bế tắc, rối loạn cơ thể và tâm lý thông qua khả năng siêu ý thức. Tôi cũng đã tự chữa bệnh cho mình bằng phương pháp Phathata (có kết hợp cùng các phương pháp khác). Hiện tôi vẫn tham gia câu lạc bộ chữa bệnh miễn phí cho mọi người bằng phương pháp Phathata…
Ngày của thi sĩ Phạm Thiên Thư bây giờ cũng nhẹ nhàng như gió như mây. Dưới bóng cây xanh đầy hoa nắng của quán cà phê gia đình với tên gọi Hoa Vàng trên đường Hồng Lĩnh (quận 10-TP.HCM), ông thường ngồi hàng giờ để hoài niệm về màu hoa vàng cùng bóng áo thoát tục năm xưa, để thấy mình đã sống bảy mươi năm không hoài không phí giữa nhịp đời sắc sắc không không:
Gối tay nệm cỏ nằm say
Gõ vào đá tụng một vài biến kinh
Mai sau trời đất thái bình
Về lưng núi phượng một mình cuồng ca…
(Nguồn: Đương Thời, http://cntyk2.free.fr/vannghe/tho/)
Bài phỏng vấn của nhà văn Nguyễn Thu Trân đã thực hiện hơn 10 năm trước, khi PTT mới 70 tuổi, ta được biết thêm ngoài tu Phật, làm thơ, ông còn là một thầy thuốc chữa bệnh với phương pháp Phathata.
Bây giờ ta thử nghe Võ Phiến nhận xét về thơ tình của PTT:
“Phạm Thiên Thư chỉ đóng trọn vai tuồng xuất sắc khi ông trở về với chính mình, tức một tu sĩ đa tình. Và trong vai tuồng ấy ông thật tuyệt vời, đáng yêu hết sức.
Thử tưởng tượng: Nếu Phạm Thiên Thư sớm tối miệt mài kinh kệ, một bước không ra khỏi cổng chùa, không biết tới chuyện hẹn hò, không hề lẽo đẽo đưa em này đi rước em nọ về v.v… thì nền thi ca của chúng ta thiệt thòi biết bao. Lại thử tưởng tượng Phạm Thiên Thư quanh năm suốt tháng chỉ những em này em nọ dập dìu, nhớ thương ra rít, mà không màng tới kinh Hiền kinh Ngọc, không biết chuông biết mõ gì ráo, thì trong kho thi ca tình ái của ta cũng mất hẳn đi một sắc thái đặc biệt chứ.
Cho nên ông cứ ỡm ờ thế lại hay. Có tu mà cũng có tình. Cái tình của một người tu nó khác cái tình của người không tu, nó có nét đẹp riêng”.
“Tình yêu của ông thật tội nghiệp. Không phải nó tội nghiệp nó đáng thương vì ông bị hất hủi, bị bạc tình, bội phản, vì ông gặp cảnh tuyệt vọng v.v… Không phải thế. Tội nghiệp là vì bên cạnh các mối tình vời vợi của ông lúc nào cũng thấp thoáng cái ám ảnh của kiếp sống mong manh, của cuộc thế vô thường, của cảnh đời hư ảo.
Vả lại không phải chờ đến một cái chết mới đối diện Hư Vô, ngay cả khi đôi trẻ hãy còn đủ trên đời ông vẫn ý thức rõ ràng cái nhỏ bé chơi vơi của tình yêu:
“Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tướng
Hay một vết chim bay.”
Rồi Võ Phiến khẳng định, thơ tình của PTT là thứ thơ tình “Tuyệt nhiên không thịt da”:
“Thơ tình của chàng là thứ thơ tình không có nụ hôn. Người tình của chàng là thứ người tình không da thịt. Đố thiên hạ tìm ra trong thơ chàng một nụ hôn, tìm ra những cặp môi mọng như quả nho, gò má ửng hồng như trái đào, những sóng mắt đắm đuối, ngực tròn phập phồng v.v…, đố như thế là đố khó quá… Không mọng đỏ, không no tròn, không phập phồng, không đắm đuối, không long lanh v.v… Tuyệt nhiên không thịt da”.
Ông dẫn nào Xuân Diệu, nào Vũ hoàng Chương, nào Bạch Cư Dị, ông nào ông nấy cũng “ca tụng thân xác” (chữ Nguyễn Văn Trung)… và chỉ riêng thơ tình PTT là “Tuyệt nhiên không thịt da”!
(chusalan.net: Võ Phiến Từ Ngày xưa Hoàng Thị… tới… Đưa em tìm động hoa vàng…)
“Không phải đâu là không phải đâu”! Võ Phiến lầm chết! Tưởng tượng xem, một tu sĩ đa tình, 9 năm ngồi ngắm trăng suông bên bờ suối, nhìn vách đá ngẩn ngơ chẳng thua gì 9 năm diện bích của Bồ Đề Đạt Ma… một hôm sực nhớ đóa hoa vàng (khổ 99 Động hoa vàng)
Vào hang núi nhập Niết bàn
Tinh anh nở đoá hoa vàng cửa khe
“Thiền sư” hiểu rõ lẽ vô thường, rõ cái chơi vơi của “cõi người có bao nhiêu/ mà tình sầu vô lượng” nên một khi đã phập phồng, đã đắm đuối, đã long lanh thì hết phương … cứu chữa!
Anan là đệ tử đẹp trai nhất của Phật, một hôm đi khất thực, gặp người đẹp Ma-đăng-già quyến rũ sắp…, Phật vội vàng kêu đại đệ tử Xá-lợi-phất mang lá bùa đến cứu. Lá bùa đó là Chú Lăng Nghiêm. Bây giờ các tu sĩ sáng nào cũng phải tụng!
Cho nên 9 năm ngồi nhìn vách đá, ngắm trăng suông, miệt mài kinh kệ, một hôm biệt thầy giã bạn xuống núi, thõng tay vào chợ thì choáng váng, háo hức, hừng hực…không lạ!
Nhưng để hiểu cho rốt ráo “mười con nhạn trắng về tha” này, ngày 9.6.2021, mình viết thư hỏi nhà văn Nguyễn Thu Trân. Cô liền gọi phone ngay cho nhà thơ và trả lời mình:
Gửi anh Đỗ Hồng Ngọc,
Em đã gặp nhà thơ Phạm Thiên Thư nhiều lần, nhưng thật ra chưa thắc mắc về từ “tha” trong câu đầu của thiền ca Động hoa vàng. Chú cháu ngồi với nhau chỉ nói về cõi thiền vô ưu dữ dội của Động hoa vàng thôi. Thắc mắc của anh quá hay, khiến em phải thắc mắc rằng, tại sao mình không thắc mắc điều này với nhà thơ. Em có gọi chú PTT bằng số điện thoại từ lâu rồi nhưng tổng đài bảo số này không có thật (chắc chú đã đổi số). Không chắc bây giờ ông già còn khoẻ và minh mẫn. Thuở em gặp, ông già cũng đã mơ màng với cái điện công Phathata lắm rồi. Thôi thì, em cũng liều mình suy diễn trên tinh thần đã trao đổi về Động hoa vàng với nhà thơ PTT, anh xem thử coi có hợp lý không nhé- nếu không hợp lý thì anh cho em ý kiến khác vậy.
Chúc bác sĩ luôn vui khoẻ trong mùa dịch covid.
Thu Trân
9.6.2021
.
Mười con nhạn trắng về tha
Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm
“Tha” có lẽ phải hiểu ở đây theo nghĩa Hán- Việt, chứ không thể là “tha thứ” hoặc
“tha đi, mang đi”- suy diễn hơn một chút, càng không phải là “bê tha”.
Trong tiếng Hán, “tha” có 3 nghĩa:
– “Tha” đại từ chỉ ngôi thứ ba số ít: anh ấy, chị ấy, ông ấy, bà ấy (nam nữ cách viết
khác nhau nhưng phát âm giống nhau).
– “Tha” tính từ có nghĩa thư thả, ung dung tự tại.
– “Tha” động từ có nghĩa gánh vác, chở che.
Trong bối cảnh “Mười con nhạn trắng về tha” là câu đầu của “thiền ca” Động hoa
vàng 100 khổ thơ lục bát của Phạm Thiên Thư, có lẽ “tha” trong trường hợp này là
tính từ (thư thả, ung dung tự tại) là phù hợp nhất. Động hoa vàng đẹp như mơ, hư
hư thật thật với đàn chim nhạn “mở màn” thì thái độ ung dung tự tại (vô ưu) rất phù hợp cho 3 câu sau đó:
Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm
Và kết nối khổ thơ đầu với khổ thơ cuối, ta sẽ thấy “sự suy diễn” này phù hợp:
Hoa vàng ta để chờ anh
Hiện thân ta hát trên cành tâm mai
Trần gian chào cõi mộng này
Sông Ngân tìm một bến ngoài hoá duyên
Chỉ có sự vô ưu của một loài chim sang trọng, đẹp đẽ như chim nhạn mới có thể
“gánh” hết những gì huyền ảo trong cõi thiền mà rất đời, mà rất sex của tu sĩ Phạm Thiên Thư thôi.
(Thu Trân, 9.6.2021).
………………………………………………………………………………………….
Thiền sư thi sĩ đa tình “huyền ảo trong cõi thiền mà rất đời, mà rất sex ”, Thu Trân nói rất đúng vậy. Nhưng tại sao “về tha”? Thu Trân viết có lẽ “tha” trong trường hợp này là tính từ (thư thả, ung dung tự tại) là phù hợp nhất. Mình không nghĩ vậy. Phải tìm trong hướng khác: Y học chẳng hạn. Đừng quên, PTT không chỉ thiền sư thi sĩ mà còn là một thầy thuốc.
PTT xuất thân trong một gia đình làm nghề đông y, từ nhỏ ông đã nghe quen mùi thuốc, ba chén sắc còn 6 phân, dao cầu, thuyền tán các thứ… để chữa thân bệnh. Lớn lên đi tu… lại học được Phật pháp, chữa cả tâm bệnh, vì thế vào đời, ngoài chuyện làm thơ, ông sáng tạo một phương pháp dùng nhân điện chữa bệnh như phim kiếm hiệp Kim Dung, đưa hơi xuống huyệt đan điền, truyền công lực qua các huyệt đạo trên thân thể, PTT đặt tên phương pháp mình là Phathata (viết tắt của Pháp-Thân- Tâm). Ta thấy “Pha” là PHÁP, “Tha” là THÂN và “Ta” là TÂM. Phải đặt tên bí hiểm một chút thì pháp mới linh nghiệm chớ! Có lúc ông còn quả quyết Phathata của ông chữa trị được cả bệnh HIV-AIDS!
Như vậy, “về tha” ở đây là “trở về với cái Thân xác”, về với cái Sắc trong ngũ uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Hành giả khi “hành thâm Bát Nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không” thì vượt hết mọi khổ đau ách nạn. PTT vốn là Thích Tuệ Không mà! “Thân tâm nhất như” là nguyên tắc của Phật học và của Y học ngày nay (holistic medicine). Với Phathata (Pháp-Thân-Tâm), PTT muốn thực hiện điều này để chữa bệnh giúp đời.
Tóm lại, “về tha” là về với cái Thân xác, về với con người trần tục; và “mười con nhạn trắng” là mười ngón tay hoa miệt mài…
Phật giáo khuyên ly dục, ly tướng. “Ly nhất thiết tướng tức kiến Như Lai”. Nhưng tu sĩ thì hiểu bản thể Như-lai là vô tướng, thường trụ, bất nhị. “Chư pháp tùng bổn lai/ thường tự tịch diệt tướng”. Thị chư pháp không tướng: Bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm (Tâm Kinh). Cho nên “Như Lai thường trụ” là đúng. Cái hay ở đây là “Như lai thường trụ… trên tà áo xuân” nhé.
Thi sĩ Quách Thoai, một hôm thấy-biết Như Lai ở những bông bụp ngoài hàng giậu và giật mình sụp lạy, cúi đầu:
Ðứng im ngoài hàng giậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu.
(QT)
Ở phần kết Động hoa vàng, PTT viết:
Vào hang núi nhập niết bàn
Tinh anh nở đoá hoa vàng cửa khe
Mai sau thí chủ nào nghe
Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh
Hoa vàng ta để chờ anh
Hiện thân ta hát trên cành tâm mai
Trần gian chào cõi mộng này
Sông Ngân tìm một bến ngoài hoá duyên
Hy vọng bạn đã… hài lòng phần nào.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc
(11.6.2021)
………………………………………………………

Đỗ Hồng Ngọc và Phạm Thiên Thư, 2/2011 tại Cafe Hoa Vàng, Quận 10 Tp.HCM. (Ảnh Đặng Văn Hiệp)
June 7, 2021
Nguyễn Xuân Thiệp: TÌNH CA SỎI ĐÁ
TÌNH CA SỎI ĐÁ
nguyễnxuânthiệp
Que des caillouxTÌNH CA SỎI ĐÁ
Từ dưới lòng khe
hay bên sườn núi. xưa
vang lên. tiếng hát
ôi. sỏi đá
ngàn đời có nhau
này em có nghe
này em có nghe
khúc ca
của sỏi. và đá
sao mình mãi xa nhau
trong cõi đời
cho anh cầm tay em
và hãy lắng nghe
que des cailloux
ôi. sỏi đá
TÌM ĐÂU, MÁI NHÀ
bao giờ
về
ngồi. dưới gốc cây hoa gạo. chùa xưa
nghe chiều rơi
đọc bài thơ vương phủ
nhớ
vầng trăng
mắt em
trong lá
mái tóc ngày nào
như thơ anh
ảo. quỳnh hương
anh đi
qua bao dốc núi
bờ truông
không tìm đâu thấy
mái nhà
THĂM VƯỜN. MÙA DỊCH
buổi trưa
mùa dịch
nàng đeo khẩu trang
đi thăm vườn. nắng
thăm cây magnolia. bông tím
có thấy bóng tôi. đứng tựa góc tường
cười. khóc
HỎI HOA SỨ. CHÙA XƯA
mai sau
em về bên dòng sông ấy
ghé hỏi giùm tôi
những chùm bông sứ. ngủ quên. trên mái chùa xưa
có nghe mưa rơi
lời kinh bát nhã
HOA QUỲ. TỪ KẼ ĐÁ
buổi chiều
đứng ngắm
bông dã quỳ
mọc từ kẽ đá
hồn tịch lặng
ôi. đá xưa. đâu. người
… Và lỜi Đá kỂ
tảng đá. hình cổ quái
nằm bên sườn đồi
với lũ quạ. và những trái thông khô
kể chuyện
gã nhà thơ
tóc râu. hoang dã
qua đây
nguyện cầu gặp lại. người xưa
rồi ngồi. thiền định. cho tới khi hóa đá
giờ nằm. cô đơn. bên khóm quỳ. vàng
nghe gió. từ thiên thu. thổi
ĐI GIữA NHữNG TỜ KINH
tôi đi giữa những tờ kinh
nắng. hong trên màu lá
vàng. xưa
có tiếng gọi
trời hư vô. nghiêng bóng cây
chim ơi. chim. sao không về lại
mình tôi đi giữa những tờ kinh
còn nghe. tiếng gió. trên gác chuông. chùa cũ
vị sư già. đã rời đi
con bướm. hoàng hoa. trên phương trượng
còn thức. đợi. người
NGắM TRĂNG MÙA ÔN DịCH
Cám ơn
cám ơn em
mùa ôn dịch
đã gởi cho tôi
một nụ cười. thơ trẻ
qua màn hình cell phone
đêm nay. trăng mười bốn
tôi sẽ chạy xe qua nhà em
chúng ta cùng đứng ngắm trăng
cách một bức tường
em nhớ nhé
đừng khóc. nghe em. đừng rơi lệ
TƯỢNG*
hình như
có tiếng chim
trong đôi mắt
trăng
và nguyệt
mùa xuân đã về rồi
này em có hay
này em có hay
hoa
bên đá
tượng người
đâu. xưa
NXT
Mar 2018
*Khi xem hình mộ TCS
June 5, 2021
Thư gởi bạn xa xôi (05.06.2021)
Thư gởi bạn xa xôi (05.06.2021)
Vài nét về Huỳnh Ngoc Chiến
Trước hêt, cảm ơn anh 5 Hiền (Nguyễn Hiền-Đức), nhà thơ Khánh Minh, ca sĩ Thu Vàng, Nguyệt Mai, bác sĩ Thân Trọng Minh, Ngô Tiến Nhân, Phan Binh, Thịnh… và các bạn)
Sáng mai, đưa đám Huỳnh Ngọc Chiến tại Tam Kỳ Quảng Nam rồi. Tôi vừa nhắn Thịnh (bạn thân của Chiến) thay mặt bạn bè đánh 3 tiếng chuông tiễn đưa HNC thay vì thắp 3 cây nhang như HNC đã dặn dò khi đến viếng tang trước đó.
HNC không xa lạ. Từ nhiều năm trước, anh đã nổi tiếng với Lai rai chén rượu giang hồ, Nhân vật Kim Dung, bản dịch Tánh Không, và nhiều bài viết trên báo Giác Ngộ (mà gần nhất là bài Bất Không Thành Tựu Như Lai)… và một cuốn sách dịch SUZUKI về Nc kinh Lăng Già (Diệu Nghĩa Kinh Lăng Già) vừa xuất bản. Nhưng bản dịch nổi tiếng của anh là U Mộng Ảnh của Trương Trào được rất nhiều bạn bè khen ngợi.
Chưa đầy một năm trước, anh bị Ung thư thực quản, mổ ở Chợ Rẫy. Sau khi hóa trị xạ trị các thứ xong tưởng đã tạm ổn, anh quyết định lui về quê Tam Kỳ Quảng Nam nghỉ dưỡng, tiếp tục dịch Lăng Già kinh.
Ngày 31.3.2021, anh viết cho tôi:
Anh đọc cuốn Diệu Nghĩa Kinh Lăng Già đó thấy ổn phải không? Cũng là công trình tâm huyết của em. Bản dịch Kinh Lăng Già sắp in cũng là một công trình tâm huyết nữa. Anh đọc sẽ thấy sự khác biệt với các bản kinh đang lưu hành. Em cũng thấy tạm thoả mãn trước khi…. viên tịch :> :> :>
Rồi một thư khác:
Cám ơn anh quan tâm. Em chính thức “tái xuất giang hồ” cách đây 5 ngày để uống cà phê với mấy người bạn Tam Kỳ. Hy vọng kiếp nạn sẽ qua! Có lúc em tưởng đã không thể qua khỏi!
Cách đây 2 hôm, bác sĩ đã rút ống sonde, em thấy khỏe. Đã bắt đầu ăn uống bình thường nhưng ăn loãng và ít, chia làm nhiều bữa vì bao tử chỉ còn 1/3! Từ từ bao tử chắc sẽ ổn định trở lại.
Body em bây giờ chắc trở thành niềm mơ ước của bao phụ nữ vì sút đến 20 kí,, đang trở thành siêu mẫu và siêu mỏng :> :> nhưng em lại thấy người nhẹ nhàng, thoải mái hơn trước đây dù yếu hơn. Có lẽ càng có tuổi, thân hình chúng ta cũng nên gầy lại để khung xương đang lão hoá của chúng ta đỡ vất vả. Cái vụ này thì anh quá rành bài rồi! :>
Em Vẫn còn ở Tam Kỳ để chở vết mổ ở cổ lành hẵn. Hy vọng ngày “lai rai chén rượu giang hồ” sẽ không còn xa.
Nhưng ngày 05.05.2021 anh viết:
Tình hình không ổn rồi anh Ngọc. Siêu âm cách đây 2 tuần đã di căn qua gan. Đau âm ỉ lâu nay nhưng em vẫn trụ được. Đêm qua bụng đau dữ dội. Sáng nay vẫn tiếp tục đau. Phần bụng chỗ gan đã cứng quá nhanh. Chắc sẽ không kéo dài bao lâu nữa đâu. Em vẫn tỉnh táo và đang cố hoàn thành bài BẢN LAI VÔ NHẤT VẬT.
Ngày 06.05.2021 anh viết Lời Cuối trên trang web huynhngochien.com
Và sau đó anh thông tin cho biết “Có người làm video đưa LỜI CUỐI lên YouTube. Thiệt bất ngờ”
https://m.youtube.com/watch?v=JtT49SOG760&feature=youtu.be
Thì ra của một người bạn là anh Thuan PHAN NGOC. Xin phép anh Thuan Phan Ngọc chia sẻ nơi đây.
Khnah Minh trước đó noi vẫn tụng kinh Dược Sư cầu nguyện cho HNC. Ca sĩ Thu Vàng bảo vậy là em mất một người bạn quý. Tôi chỉ nhắn tin các bạn vài chữ: Huỳnh Ngọc Chiến, “Một Đời Tài Hoa!”.
June 1, 2021
Mùa Côvi: Nhắc chuyện Độc cư/ Thiền định/ Kham nhẫn/ Tri túc
Ghi chú: Một người bạn nơi xa đề nghị mùa Côvi hoành hành này hãy post lại bài Độc cư/ Thiền định/ Kham nhẫn/ Tri túc… nhắc nhau nhé.
Nên 3 chén sắc còn 7 phân vậy.
Thân mến,
ĐHN.
Độc Cư
Lúc dịch bệnh tràn lan như vầy thì lời khuyên tốt nhất là nên “ở nhà một mình” (Home Alone, nhớ không?). Mọi người nên “Stayhome” trong “Homestay” của mình. Bất đắc dĩ mới phải ra đường khi thật sự cần thiết.
Độc cư nhiều khi dễ căng thẳng, buồn chán, dễ gây lộn, dễ “phá thành sầu” bằng chai alcool (không phải để sát khuẩn) mà để sinh sự cho sự sinh.
Phật giảng một bài rất hay trong kinh “Người biết sống một mình”. Đó là người sống với cái Tâm tĩnh lặng, trong sáng, không bị “trôi lăn” (cuốn) vào dĩ vãng hay tương lai bởi “dĩ vãng đã qua rồi/ tương lai thì chưa tới”. An nhiên tự tại với “ở đây và bây giờ” (here and now).
Một người chui vào phòng kín, nhập thất, hoặc lên núi cao cất cái chòi nhỏ… để sống mười năm chưa chắc đã là “độc cư” khi trong lòng còn mang mang : quân tử trả thù mười năm chưa muộn…
Thiền định

(internet)
“Nếu không đi ra ngoài được thì hãy đi… vào trong”
Lục tổ Huệ Năng bảo: Ngoài không dính mắc là Thiền/ Trong không lay động là Định.
Vậy thì đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền cũng định.
Còn Trần Nhân Tông thì bảo:
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền
Trước cảnh mà tâm vẫn an, vẫn tịnh, thì chẳng cần hỏi chi tới Thiền!
Cho nên để có thể có tâm an tịnh, thiền là một cách thế trong rất nhiều cách thế. Ngày nay, y học và tâm lý trị liệu… cũng nghiên cứu ứng dụng Thiền để chữa trị những thứ bệnh thời đại. S.A.D (Stress: căng thẳng; Anxiety: Lo âu, sợ hãi; Depression: trầm càm), nghiện ngập, rối loạn chuyển hóa, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn hành vi… đã mang lại nhiều kết quả khả quan. Dĩ nhiên, đó chỉ mới là một phần ứng dụng của Thiền, chưa phải là thiền Phật giáo.
Dù sao, thiền cũng là cách giúp mình được an nhiên, tự tại… trong tình hình đầy hoang mang căng thẳng lúc dịch bệnh đang hoành hành.
Kham nhẫn
Kham là chịu, nhẫn là nhịn.
Trong các yếu tố khiến “kham không nổi” thì “khẩu” (Lời nói) là yếu tố quan trọng nhất. Đã đành “ý dẫn các pháp”, nhưng ý chưa thể hiện thành hành vi. Khẩu mới ầm ỉ, náo nhiệt, là đầu mối sinh sự, gây chiến! Cho nên Phật dạy con mình là La Hầu La rất kỹ về “khẩu nghiệp”: Không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói lời hung ác… Rồi dạy con phải học hạnh của Đất để “nhẫn”: ném một thỏi vàng hay một đống rác xuống đất, đất vẫn « như như bất động »…
Nhưng “kham nhẫn” trong lời khuyên của Phật thì không chỉ là sự chịu đựng, “nhịn nhục” với cái đáng giận, đáng ghét mà còn phải “kham nhẫn” cả với những đường mật, mê say vì dễ dẫn ta tới tham ái, chấp thủ.
“Kham nhẫn” với giận với hờn còn dễ hơn kham nhẫn với nhớ, với thương, phải không?
Tri túc
Tri túc là Biết đủ. Nhưng thế nào là đủ? Làm sao để biết đủ?
Lòng tham vốn không đáy. Lúc nào cũng muốn muốn muốn. Nào vạn tuế vạn vạn tuế, nào muôn năm trường trị, nhất thống giang hồ, trường sanh bất tử…
Mà càng tham thì càng thấy thiếu. Người đẹp muốn đẹp hơn. Người giàu muốn giàu nữa. Người quyền chức thì muốn càng cao thêm mãi.
Nguyễn Công Trứ bảo: Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc? Biết đủ thì đủ! Đợi đủ bao giờ mới đủ? Bao giờ nghĩa là… còn lâu!
Ưng Bình Thúc Giạ Thị thì bảo:
Biết đủ dầu không chi cũng đủ
Nên lui đã có dịp thì lui…
Cho nên Tri túc luôn đi đôi với Thiểu dục. Thiểu dục Tri túc. Bởi người it ham muốn thì may ra mới thấy là đã đủ, nghĩa là thôi, đủ rồi đó!
Nhưng, nói thì dễ, mà làm thì không dễ chút nào bạn ơi!
Đỗ Hồng Ngọc.
(2.6.2021)
May 31, 2021
Sách hay nên đọc của Nguyễn Tường Bách (*)
Tái bản bộ sách đặc biệt của tác giả Nguyễn Tường Bách
(https://nguoidothi.net.vn/tai-ban-bo-...)
Những tác phẩm hòa quyện tri thức, tuệ giác và giá trị văn chương của tác giả Nguyễn Tường Bách vừa được chọn tái bản với diện mạo mới đầy tao nhã và trau chuốt.Là một giáo sư vật lý nổi tiếng tại Đức lại là một nhà nghiên cứu Phật học, Nguyễn Tường Bách dùng văn chương như một cây cầu nối giữa sự tinh thông Phật học và tri thức khoa học hiện đại. Và không chỉ đúc kết các chiêm nghiệm riêng, có khi ông còn là một hành giả, một khách lữ hành ghi chép thực địa, mở ra những cuộc đối thoại với tôn giáo, triết học trong một tinh thần khiêm cung và minh triết.
Các tác phẩm, dịch phẩm đầy uyên thâm, phóng khoáng và thức tỉnh của ông được độc giả tiếng Việt trên khắp thế giới không ngừng đón nhận trong hơn 20 năm qua.
Trong dịp này, Phanbook chọn tái bản ba tác phẩm tiêu biểu nhất của ông: Mùi hương trầm, Lưới trời ai dệt và Đêm qua sân trước một cành mai.
Đêm qua sân trước một cành mai bao gồm tám mẩu chuyện nhỏ, có không khí của những công án Thiền, tỏa nguồn năng lượng tinh tấn và bình an. Trong những mẩu chuyện, các danh nhân như Nguyễn Công Trứ, Issac Newton, Albert Einstein… cho đến con người bình dị, những loài vật bình thường được đặt trong một thế giới tràn đầy tinh thần Pháp lạc.
Lưới trời ai dệt? in lần đầu năm 2004, là tập tiểu luận về những điểm giao thoa, nhất quán đầy bất ngờ giữa tri thức khoa học vật lý cơ bản, triết học hòa điệu trong thế giới quan Phật giáo. Bằng một lối viết tiểu luận văn chương sâu sắc và bay bổng, Nguyễn Tường Bách mang đến cho độc giả những hiểu biết về một vũ trụ nhất nguyên, vận động hài hòa.
Những khái niệm vật lý cơ bản không còn khô khan, những bản kinh cổ Phật giáo không còn xa xăm diệu vợi, mà được kéo gần với những trải nghiệm, sự thông đạt vi diệu. Con người không đơn độc khi nhận ra mình là một phần của bản hòa âm diễm tuyệt của tự nhiên.
Mùi hương trầm là hành trình khám phá những mảnh đất nguồn cội văn hóa tâm linh trên thế giới. Nguyễn Tường Bách trong vai một hành giả, khám phá chi tiết, chân thực văn hóa, lịch sử, cộng đồng Ấn Độ, Nepal, Tây Tạng, Trung Hoa và trở về quê hương Việt Nam. Cuốn sách là một ánh văn du ký-hành hương tuyệt đẹp với sự kết hợp giữa không gian ngôn ngữ hiện đại và cổ kính, giữa sự tái hiện khung cảnh và những chiêm nghiệm nội tâm.
Ngoài ba tác phẩm tái bản lần này, vào năm 2018, Phanbook cũng đã ấn hành tập tùy bút Mộng đời bất tuyệt của Nguyễn Tường Bách.
Nguyễn Tường Bách sinh năm 1948 tại Thừa Thiên – Huế, du học Đức năm 1967 và hiện sinh sống tại Đức. Ông là nhà khoa học, nhà văn nổi tiếng với nhiều tựa sách. Các tác phẩm của Nguyễn Tường Bách do Phanbook phát hành gồm: Mùi hương trầm, Đêm qua sân trước một cành mai, Mộng đời bất tuyệt.
Ngoài ra ông còn là dịch giả của: Con đường mây trắng (Anagarika), Đối diện cuộc đời (Jiddu Krishnamurti), Sư tử tuyết bờm xanh (Surya Das), Thiền trong nghệ thuật bắn cung (Eugen Herrigel), Đạo của vật lý (Fritjof Capra)…
PV
(*) dohongngoc
May 25, 2021
Lê Ký Thương: “Có người thục nữ dám theo… ngu”
CÓ NGƯỜI THỤC NỮ DÁM THEO… NGU *
Lê Ký Thương
(Viết về Bà Thoại Dung, vợ nhà văn Nguiễn Ngu Í)
Năm 1998, qua lời giới thiệu của một người bạn cùng chủ trương nguyệt san Ý Thức trước 75, nhà thơ Đỗ Nghê (tức Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc), bà Thoại Dung biết tôi làm sách, đến nhà gặp và nhờ thực hiện quyển:

Bìa “Ngu I NGUYỄN HỮU NGƯ Qua Ký Ức Người Thân”. (ảnh ĐHN)
Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư
QUA KÝ ỨC NGƯỜI THÂN
do bà sưu tập
(Sách không bán, dành biếu người thân…).
Tôi biết nhà giáo – nhà báo Nguiễn Ngu Í là cậu của bạn, người nổi tiếng với những bài phỏng vấn giới văn nghệ sĩ, nhà giáo ở Miền Nam đăng trên tạp chí Bách Khoa trước 75, người cải tiến cách viết chữ quốc ngữ theo cách riêng của mình, và cũng là người làm “thơ điên thứ thiệt”: “Má ơi con Má điên rồi / Má đừng khóc đứng khóc ngồi mà chi” và “Ta đi lang thang /Ta nói tàng tàng / Ta cười nghinh ngang / Ta chửi đàng hoàng”. Quả thiệt, chỉ có “người điên thứ thiệt” mới rút hết chất tinh túy của tâm can thốt ra những vần thơ như vậy.
Bà Thoại Dung là nhà giáo, tâm huyết với nghề dạy học.
Tôi đề nghị với bà muốn thực hiện quyển sách này, bà hãy tập trung bản thảo đầy đủ của những người viết và những hình ảnh cần đưa vào sách.
Nhờ thế mà tôi có dịp đọc trước những bản thảo đó.
Qua hồi ký của Đỗ Hồng Ngọc, tôi được biết “ông Ngư khùng, Ngư điên vì học giỏi, học cao” là cậu của bạn tôi. Đến năm 12 tuổi, bạn tôi mới gặp “cậu Ngư” bằng xương bằng thịt khi ông từ Sài Gòn về Phan Thiết thăm bà con. Và cũng nhân dịp này mà bạn tôi đổi đời: từ một đứa trẻ theo cha đi kháng chiến, cha hy sinh ở chiến khu, theo mẹ về thành, suốt ngày phụ giúp mẹ chằm nón, nấu cơm, và bỗng nhiên ông Tiên xuất hiện, dắt đi mua sách vở chuẩn bị vào trường ở nhà sách Vui Vui bên bờ sông Cà Ty. Hỏi không bất ngờ và không vui sao được?!
Nhưng tâm trạng của bạn lúc đó vừa lo vừa sợ: “Tôi (ĐHN) vừa đi vừa ngó chừng cậu. Cái huyền thoại học giỏi hóa điên của cậu làm tôi ngờ ngợ, lo lo… Nhưng thà học giỏi hóa điên còn hơn là học dỡ. Trước đây tôi học trong rừng, vùng kháng chiến quê mẹ tôi, không biết sức học thực của mình ra sao. Mười hai tuổi, biết đọc, biết viết, làm toán khá, còn chưa biết một chữ ‘le, la’ trong tiếng Pháp, mà hồi đó, học trò tiểu học đã học tiếng Pháp rồi. Tôi hoảng lắm. Cậu thì tỉnh queo, nắm tay tôi kéo vào tiệm sách… Cậu… mua cho nào vở nào tập nào viết chì, viết mực, cục gôm, không thiếu một thứ gì. Cậu còn mua cho một cây viết chì hai đầu xanh đỏ mà tôi rất khoái. Mấy cuốn sách Pháp vở lòng, sách Việt, sách Toán đủ cả. Cậu thực là rành nghề học, tôi nghĩ…”.
Ông Ngu Í “rành nghề học” vì ông là cựu học sinh Pétrus Ký, được GS Phạm Thiều thương, bạn đồng môn của Trần Văn Khê và thi đổ vào Cao đẳng Sư phạm Sài Gòn, nhưng vì lý do sức khỏe không thể tiếp tục “nghề học”!
Bà Tùng Long kể lại trong hồi ký của mình: “… Có lẽ tôi quen với Ngư do những câu chuyện do em Hân kể về Ngư. Theo lời em tôi, Ngư là một học sinh thông minh, học giỏi, có tài hùng biện, đối đáp mau lẹ. Và Ngư cũng là con một nhà cách mạng lão thành chống thực dân. Bấy giờ Ngư được giáo sư Phạm Thiều đem về nuôi cho ăn học, vì giáo sư cũng dạy trường Pétrus Ký… Cũng có người nói Ngư khùng, Ngư điên, nhưng theo tôi nhận xét như vậy thì quá khắt khe, vì điên, khùng thì làm sao lại là một học sinh giỏi, lanh trí, và còn xuất khẩu thành thơ nữa (…) Rồi năm 1942, Mỹ thả bom Sài Gòn, tôi phải đưa các con về Quảng Ngãi quê chồng (…). Thời gian ấy, tôi sanh đứa con thứ tư, cũng dịp này tôi quen với cô Thoại Dung, một thiếu nữ thích hoạt động và thường ghé qua nhà xem có cần gì khi lâm bồn sẽ giúp đỡ. Và Thoại Dung cũng là người hàng xóm tính tình vui vẻ trẻ trung của chúng tôi. Thế rồi, một hôm tôi đang bồng đứa con sơ sinh đứng chơi trước cửa, (… ). Có một đoàn người vai mang ba-lô đi ngang qua, đó là những sinh viên từ miền Nam ra Bắc để tham gia phong trào kháng chiến cứu nước (…), bỗng có một người trong đoàn ấy lùi lại nhìn, rồi tạt vào ngó tôi sững sốt và hỏi: “Sao trông giống chị Hân quá. Có phải chị là chị Bạch Vân không?”. Tôi đang ngơ ngác chưa biết người khách này là ai, thì người ấy quả quyết: “Ồ, đúng là quả đất tròn. Tại sao chị lại ở đây?”. Tiếp theo người khách ấy đọc luôn mấy câu thơ gì đó nay tôi không nhớ. Khi ấy, đoàn người đã đi khá xa, trong đoàn có người chạy ngược lại kêu lớn: “Ngư, đi chớ. Phải đến Châu Ổ trời tối nhé!”. Ngư! Khi nghe tên Ngư làm tôi nhớ lại em Hân và các bạn thường nói với nhau, một Nguyễn Hữu Ngư tóc húi ngắn, mang kiến cận dày, người ốm nhom ốm nhách. Đúng là Nguyễn Hữu Ngư”.
Cũng trong hồi ký này, bà Tùng Long kể một giai thoại về ông Ngu Í khi bị bắt giam ở nhà lao Quảng Ngãi. “(…) anh ta la hét om sòm rằng mình đã ra Hà Nội để gặp Hồ chủ tịch, nhưng không muốn ở lại, nên mang ba-lô trở vào Nam, thì can chi mà bắt. Ta đâu phải Việt gian. Vì la hét om sòm cả ngày, cho nên người ta phải chuyển về trại giam của huyện lỵ Nghĩa Hành (…), anh ta cứ đòi gặp các cấp lãnh đạo, để tường trình anh là thành phần yêu nước, phải thả cho anh về Nam để tiếp tục chiến đấu chống xăm lăng. Rồi ngày nào anh ấy cũng sắp sẵn ba-lô ngồi chờ giấy ân xá. Đợi hoài không được, anh thừa cơ chạy trốn. Một nhân viên CA gặp, định bắt anh lại, anh ta làm ra vẻ hiền lành, thản nhiên cười nói: “Tôi ra một câu đối, nếu anh đối được thì tôi để anh bắt. Không, thì phải thả tôi đi. Rồi Ngư đọc: “Rầu rỉ râu ria ra rậm rạp”. Người CA nhìn thấy người vượt nhà giam râu ria đầy hàm, mặt mũi vì thiếu ăn nên choắt lại chỉ còn da bọc xương. Đôi mắt lờ đờ sau cặp kính cận dày mụp. Anh CA còn đang lúng túng và cũng có phần thương hại người điên, thì anh ta liền đọc vế đối tiếp theo: “Ngông nghênh ngốc nghếch ngó ngu ngơ”. Rồi bỏ chạy một mạch mất dạng”.
Bà Tùng Long kể tiếp: “Để rồi sau đó, bất chấp cơ quan an ninh đang truy lùng, Ngư quyết định ở lại Quảng Ngãi chỉ vì cô giáo Thoại Dung và đám trẻ ngây thơ vui đùa múa hát với “một ngón tay nhúc nhích” đã quyến rủ. Và, mối tình Dung – Ngư nẩy nở vào dịp thị xã Quảng Ngãi có lệnh tiêu thổ kháng chiến. Dung theo gia đình tản cư lên Đồng Cọ, chúng tôi cũng dắt díu đàn con chạy về chợ Gò vùng Mỹ Thịnh nơi có thắng cảnh Thạch Bích Tà Dương. Vì sinh kế chật vật, tôi quên bẵng mối tình thơ mộng của hai người bạn trẻ ấy. Mãi một hôm, Ngư tìm đến Mỹ Thịnh nhờ anh Hồng Tiêu đứng chủ hôn. Thì ra người yêu mà Ngư định cưới là cô giáo Thoại Dung của các con tôi và cũng là cô bạn trẻ của chúng tôi. Vợ chồng tôi có ngỏ ý trực tiếp lo lắng một cách chân tình với cô Thoại Dung, cho Dung biết Ngư là một người không bình thường, làm vợ Ngư chưa hẳn là hạnh phúc, mà phải mất mát nhiều hy sinh, bởi vì Ngư còn nuôi mộng quá lớn. Chưa hẳn đã chịu dừng chân trong một mái nhà tranh với hai quả tim vàng. Nhưng cô Thoại Dung quả quyết trả lời: Em sẵn sàng hy sinh để anh ấy đạt chí lớn”.

Ông bà Nguiễn Ngu Í và các con Tuiền, Nguiên (Saigon,1963).
(Ảnh ĐHN chụp lại từ trong sách)
Theo hồi ký của GS Trần Văn Khê, người bạn đồng môn ở trường Pétrus Ký thì ông Nguiễn Ngu Í: “sanh ra trong một gia đình có óc cách mạng, thân phụ anh có chân trong Đông Kinh Nghĩa Thục, và từng ủng hộ hoạt động của những nhà cách mạng, vì giúp tù Côn Đảo tấp bè vào biển gần làng ông cư trú, trong đó có mấy đồng chí cũ. Sau đó bị lộ, ông chịu án ba năm Lao Bảo và đưa về xứ an trí (Hà Tĩnh). Vì thuộc thành phần “gia đình cách mạng”, nên sau ngày nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khai sinh, anh ra miền Bắc, được làm việc tại Bắc Bộ phủ. Khi tự biết mình không thể hòa hợp đường lối của chính phủ đương thời, anh xin thôi. Nhờ một vài vị trong cấp lãnh đạo, nhớ ơn của thân sinh anh, cho anh về miền Trung công tác trong đài Phát thanh Nam Bộ đóng ở Quảng Ngãi, do Huỳnh Văn Tiểng là bạn học cùng trường Pétus Ký Sài Gòn với chúng tôi trước kia phụ trách. Về lại Quảng Ngãi, có lần đương kiêm Thủ tướng Phạm Văn Đồng gặp anh và viết trong quyển sổ lưu niệm của anh: “Một thanh niên nhiều lý tưởng, nhiều quá, và thiếu óc thực tế, thiếu quá, nên chưa biết bay nhảy về đâu. Tất cả cái hay cái dở của anh đều ở đó. Vậy tìm hiểu con người mình hơn, hoàn cảnh của mình hơn nữa, để nhìn thẳng vào thực tế rồi chọn một con đường mà đi”. Quảng Ngãi cũng là nơi nhờ duyên may anh đã gặp được “Nàng Suối Bùn Reo” để sau này cùng anh nắm tay đi trọn đường đời”.
Nói về mối tình giữa ông và bà Thoại Dung, qua lời kể của bà Thoại Dung: “… Tôi thầm nghĩ: Tại sao anh lại đếnthăm mình? Anh muốn nói gì đây? Ta nên có thái độ như thế nào nếu anh nói điều gì đó với mình? (…) Có lẽ anh cũng đang tính nói gì với tôi trước khi từ giả mà chưa có dịp nên được tôi mời nghỉ, anh vui vẻ đến ngồi đối diện với tôi, và mở đầu câu chuyện: “- Sở dĩ tôi tìm thăm chị là tôi có ý muốn hỏi ý kiến chị về việc này, nhưng tôi ngại vì… sợ. Tôi cười xã giao: – Anh mà sợ gì, muốn nói gì cứ nói, muốn hỏi gì cứ hỏi. Tôi nghĩ là anh mà còn sợ ai. – Thế mà tôi sợ chị. – Thế à? Như vậy thì hân hạnh cho tôi quá. Anh Ngư mà lại sợ Dung sao? Bây giờ anh muốn nói gì cứ nói. Tôi sẵn sàng ngồi nghe và sẵn sàng trả lời liền nếu có thể. Thế là anh ngỏ lời cầu hôn tôi hôm ấy. Tôi rất ngỡ ngàng, nhưng đã nói mạnh dạn tự nảy giờ nên tôi lưỡng lự một chặp rồi hẹn sau một trăm ngày sẽ trả lời dứt khoát với anh. (…) Tôi băn khoăn tự hỏi tại sao một thanh niên như thế mà lại thiếu những cơ hội may mắn để thi thố tài năng, để đến nỗi phải bất đắc chí? Ta có thể đem lại may mắn đến cho anh không? Ta thử đem nghị lực của mình để giúp anh vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống hôm nay được không?”.
Trong hồi ký, bà Thoại Dung kể tiếp: “Tôi về thưa lại với gia đình chuyện anh Ngư cầu hôn, thế là gặp sự phản đối của người thân (…) Trong khi đó, người anh thứ ba của tôi đi tìm hiểu về anh Ngư, anh ra Bình Sơn gặp anh giáo Ba là người thân của gia đình để hỏi thăm về gia thế anh Ngư. Anh giáo Ba là người am hiểu về ông giáo Hoàn, cụ thân sinh anh Ngư, cho biết ông cụ là một nhà cách mạng, gia đình tốt, anh Ngư học giỏi, và là người con hiếu thảo. Sau chuyến đi đó, anh Ba tôi về thưa lại với mẹ tôi, trong gia đình tất cả đều đồng ý cho tôi nhận lời cầu hôn của anh Ngư”.
Đọc qua phần hồi ký bà viết mối tình giữa bà và ông ở Quảng Ngãi thật cảm kích khi “có người thục nữ dám theo… Ngu và sẵn sàng hy sinh để anh ấy đạt chí lớn”. Nhưng sau khi cưới một năm, bà tưởng “sống hạnh phúc bên người chồng tốt và rất dễ thương, biết lo và chăm sóc vợ chu đáo”… Nhưng rồi sau đó, bệnh điên của ông tái phát! “… Anh bắt tôi phải đi theo anh dưới mưa, đang đêm bắt tôi phải cùng anh lội qua rạch nước. Vì anh quậy phá làm rối trật tự xã hội nên CA phải giữ anh ở trại Nghĩa Hành. Một tuần lễ tôi phải đi bộ trên ba mươi cây số để thăm và mang thức ăn tiếp tế thêm cho anh, mặc dầu trong lúc tôi và gia đình cha mẹ tôi đang sống rất khó khăn. (…) Nhưng riêng tôi, tôi vẫn nghĩ: Tại sao lại thua? Sông có khúc người có lúc! Mình phải chấp nhận để sống với hoàn cảnh hiện tại. Cuộc sống lứa đôi này do mình chọn, đã thấy trước là sẽ gặp khổ mà vẫn quyết định đi đến hôn nhân, thì nay mình phải can đảm chịu đựng và phải tìm cách xoay xở để làm tròn bổn phận của một người vợ có chồng bệnh hoạn – cũng có thể nói là chồng đang lâm cơn hoạn nạn! Cũng may là có sự quan tâm của UBHC tỉnh Quảng Ngãi cho tôi nghỉ việc dài hạn để nuôi chồng mà vẫn được hưởng lương. Sau bốn tháng, bịnh của anh Ngư giảm hẳn, anh được trở về với gia đình, và tôi được đổi vào bệnh viện ở Đồng Cát tại huyện Mộ Đức, chúng tôi ở gần gia đình anh Phạm Văn Diêu cũng là bạn thân của anh Ngư. (…) Khoảng đầu năm 1952, anh Ngư làm đơn xin đưa vợ về Bình Thuận để dưỡng bịnh thần kinh. UBHC tỉnh Quảng Ngãi chấp thuận, và giúp đỡ chúng tôi được toại nguyện”.
Thay vì tỉnh Bình Thuận, nơi song thân của ông sống ở Lagi, ông bà vào thẳng Sài Gòn mất ba ngày ba đêm bằng ghe bầu. Lên bờ, ông đón xe ngựa đưa bà đến tòa báo Sài Gòn Mới, tìm gặp bà chủ nhiệm Bút Trà là chị dâu của Bà Tùng Long, nhờ giúp đỡ chỗ ở tạm thời và công ăn việc làm trong khi ông đi tìm các bạn học cũ ở trường Pétrus Ký để nhờ bạn tìm giúp việc làm…
“… Anh Ngư đi dạy được vài tháng, không may bị xe nhà binh Pháp đụng ngã, cán phải chân trái, xe đạp bị gãy, phải nằm nhà thương thí Sài Gòn (…). Sau khi xuất viện, nhà tôi làm đơn đòi nhà binh Pháp bồi thường tiền cơm thuốc. Khi lãnh được một số tiền khá lớn, anh Ngư nói: – Dung khổ sở vì anh nhiều quá. Anh lấy số tiền này mua cho Dung cây đàn piano. Tôi ngăn anh: – Thôi đi ông ơi, phải thực tế một tí chớ. Nhà còn chưa có mà mua đàn piano về rồi để đâu? Mà Dung chỉ cần cây đàn mandoline, tập những bài hát nhỏ để khi vào lớp dạy các cháu hát mà thôi. Nghe tôi nói có lý, anh đến nhờ nhạc sĩ Lê Thương đưa đi lựa một cây đàn mandoline loại tốt, chiều đi dạy học về, anh đem đàn ra khoe. Cây đàn mandoline tôi vẫn còn giữ nguyên mãi cho đến nay đã hơn bốn mươi tám năm qua mà vẫn còn tốt. Vừa rồi, trong ngày Phụ nữ Quốc tế 8/3/97, cũng là dip 70 tuổi, tôi lấy đàn ra ngồi đàn lại bản Xuân và tuổi trẻ của La Hối cho bạn gái nghe. Tôi ngậm ngùi nhớ lại những kỷ niệm ngày xưa của chúng tôi. Tôi nhớ anh Ngư là một người chồng dễ thương và hết lòng yêu vợ (…) Nhưng ác thay, căn bệnh của nhà tôi không sao dứt hẳn, cứ vài ba năm lại tái phát một lần, mỗi lần vài ba tháng mới dứt (…) Có lần, anh nổi cơn bỏ nhà đi bặt tăm, tôi tin cho chú Phạm Văn Thơm, tức Trường Sanh là một người em kết nghĩa thân tín với anh Ngư, nhờ chú hỏi thăm coi anh Ngư đang ở đâu tìm về. Sau mấy ngày dò la những nơi anh Ngư thường đến, chú đã tìm được anh Ngư đang ở La Gi (Bình Tuy bấy giờ), anh cương quyết không chịu về vì sợ tôi sẽ đưa vào Dưỡng trí viện Biên Hòa. Chú Trường Sanh phải tìm mưu kế bằng cách nói rất thành khẩn với anh Ngư: – Chị Dung có việc nhà cần giải quyết mới nhờ em đi kiếm anh về, em đi mấy ngày nay thần kinh em căng thẳng quá, nhức đầu chịu không nổi, anh quen thân với bác sĩ Hiệp, nhờ anh đem gởi em nằm Dưỡng trí viện vài tuần, chớ kiểu này nếu anh không giúp chắc em điên mất…”.
Bác sĩ Tô Dương Hiệp, con trai nhà văn Bình Nguyên Lộc, lúc bấy giờ là Phó Giám đốc Dưỡng trí viện Biên Hòa am hiểu bịnh tình của ông, nói riêng với bà Thoại Dung “anh Ngư bị bệnh văn chương tâm bệnh, y học gọi là Litterature Psychopathologique. Khi lên cơn, anh sáng tác thơ văn rất hay và cũng rất nhanh.
Năm 1979, ông đang nằm điều trị ở Dưỡng trí viện Biên Hòa thì bệnh viện báo tin ông bị té, chấn thương sọ não, yêu cầu bà đem ông về nhà chăm sóc. “Khi tôi lên Dưỡng trí viện đem anh về, gần nhà có anh Nguyễn Hữu Chánh là bạn anh Ngư, người trong xóm quen gọi là ông Tám Yoga. Ông đến thăm và bảo mỗi sáng đưa anh đến nhà cho ông chạy điện miễn phí, vì ông biết gia đình chúng tôi đang túng bấn. Tôi thì mỗi ngày đi dạy kèm để kiếm tiền nuôi gia đình. Còn hai con tôi thay nhau cõng nhà tôi đến để ông Tám Yoga chạy điện. Nguiễn Hữu Tuiền anh lớn lo thay quần áo, giặt giũ, còn Nguiễn Hữu Nguiên là em thì lo bồng lên xuống ván và lo nấu cháo đút cho cha. (…) Thế rồi, vào lúc 18 giờ 30 ngày 22 tháng Giêng năm Kỷ Mùi, ngằm ngày 18-2-1979 nhà tôi từ trần trên tay con trai là Nguiễn Hữu Nguiên trong khi tôi đang chạy lo sinh kế chưa kịp về. Theo lời Nguiên kể, khi thấy cha hấp hối, sợ quá chạy xuống dưới nhà kêu chị Mai – là cháu dâu của tôi – lên xem Ba sao lạ vậy? Mai biết là anh quá yếu, liền chạy xuống nhà Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc báo tin. Bác sĩ Ngọc vội vàng chạy đến, làm hô hấp nhân tạo và chích thuốc, còn Mai lấy dầu xoa khắp người. Nửa giờ sau anh vẫn không tỉnh, rồi vĩnh viễn ra đi.”.
Ngoài thiên hồi ký của bà Thoai Dung, của Bà Tùng Long còn có những bài viết của BS Đỗ Hồng Ngọc, của GS Trần Văn Khê, của BS Tô Dương Hiệp, của ông Huỳnh Văn Tiểng (phụ trách Đài Tiếng nói Nam bộ Kháng chiến 1946 ở làng Thọ Lộc, Quảng Ngãi), của ông Lê Phương Chi, của nhà thơ Đông Thùy Phan Chính, của nhà báo Lê Ngộ Châu, của nữ sĩ Hoàng Hương Trang, của dược sĩ Hồ Trường An, của nhà văn Trần Huiền Ân, của ông Châu Anh Đỗ Đơn Chiếu, của thi sĩ Phan Khắc Khoan, tất cả hợp lại thành một chân dung hết sức phong phú và đa dạng trong một con người là nhà giáo – nhà báo Nguiễn Ngu Í.
Khi thực hiện xong tập “Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư QUA KÝ ỨC NGƯỜI THÂN”, bà Thoại Dung mời vợ chồng tôi đi La Gi thăm mộ của ông. Mộ ông được an táng kề bên ngôi mộ của Cha Mẹ ông, xung quanh có nhiều bụi dứa, tại Ngãnh Tam Tân. Tôi chợt nhớ đến hai câu thơ của ông: “Nằm đây mà ngó lên trời / Lá cây dứa đã mấy đời đong đưa”.
Tôi chấp tay, cúi đầu thầm khấn: Cầu cho hương linh ông vãng sanh cực lạc!
Chú thích:
Tựa đề bài hồi ký của bà Nguyễn Thoại Dung.Theo BS Đỗ Hồng Ngọc cho biết bà sinh năm 1925, mất năm 2018, thọ 93 tuổi tại Xóm Bầu Sen, Q.5. Khoảng năm 2006, bà bị Alzheimer, mất trí nhớ, nhưng vẫn vui vẻ, chỉ nhớ tên Nguiễn Ngu Í. Trước kia bà có ước nguyện được chôn nơi quê nhà, Quảng Ngãi, do đó, con trai bà là Nguiễn Hữu Nguiên mới đây (2021) đã mang tro cốt của bà rải xuống sông Trà Khúc (cầu Cỗ Lũy).(LKT 5,2021)
May 20, 2021
Hồ thị Hoàng Anh: “Bà mẹ nuôi con khỏe”
Ghi chú: Loạt bài Mỹ nhân xứ Huế của Thái Lộc trên báo Tuổi Trẻ kỳ 5 viết về Hồ thị Hoàng Anh…
Một người bạn gởi lại tôi bài viết “Bà Mẹ nuôi con khỏe” này của Hồ thị Hoàng Anh đã đăng trên www.dohongngoc.com, nhân buổi Hội ngộ – Tâm tình về cuốn Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng do HQCBM tổ chức tại nhà GS Trần Văn Khê (2012).
Xin chia sẻ.
Thân mến,
ĐHN
“Bà mẹ nuôi con khỏe”
Hồ thị Hoàng Anh
Mấy ngày nay Hoàng Anh đang ở Mỹ, sáng nay lang thang vào trang web của Việt Nam tình cờ thấy bài của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc “ Vài chuyện kể về cuốn sách viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng”. Đọc đến đoạn cuối bs Đỗ Hồng Ngọc có nhắc về cuộc thi “Bà mẹ nuôi con khỏe” cấp thành phố năm 1985 tại hội trường bệnh viện Từ Dủ. Mà lần đó Hoàng Anh cùng con trai là Nguyên-Giáp dự thi rồi được giải nhất. Thật là một kỷ niệm vui.
Ở gần chùa nên khi nào rảnh là Hoàng Anh xin vào thư viện chùa để đọc sách , mới biết rất nhiều tập san Phật Giáo Việt Nam ở đây có đăng bài của bs Đỗ Hồng Ngọc. Đặc biệt trong số báo Phật đản xuất bản cách đây mấy ngày có đăng bài “ Nói không được”.
Mấy năm trước khi qua làm việc ở Nhật Bổn thì thấy sách của bs Đỗ Hồng Ngọc dịch ra tiếng Nhật được nhiều độc giả người Nhật đón nhận . Rồi đến khi Hoàng Anh đến Mỹ thì thấy sách bs Đỗ Hồng Ngọc xuất hiện nhiều trong các thư viện của người Việt ở đây. Chứng tỏ có nhiều thế hệ độc giả người Việt ái mộ tác giả vừa là bác sĩ vừa là nhà văn tài hoa này…
Khi nào nghĩ về cuộc thi “bà mẹ nuôi con khỏe” lần đó Hoàng Anh cũng hân hoan, rồi cũng có chút chút “ngưỡng mộ” về mình : là tại sao hồi đó mình còn rất trẻ mà đã rành rọt biết cách chăm sóc con đến vậy?
Thật ra “ bí mật” để làm được điều kỳ diệu đó chỉ vì Hoàng Anh là độc giả lâu đời của tác giả Đỗ Hồng Ngọc! Là con gái Huế chính tông, Kể từ khi bắt đầu “nứt vỏ” để lớn lên bên giòng sông Hương núi Ngự trở thành o thiếu nữ là tâm hồn đã biết rung cảm với ca từ và giai điệu của âm nhạc Trịnh Công Sơn, cũng là lúc Hoàng Anh biết bắt đầu say sưa với cuốn “ Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò”. Khi đến tuổi lập gia đình có con thì nghiền ngẫm “ Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng”. Khi con lớn vào đai học rồi thì nhâm nhi “ Gió heo may đã về”. Bây giờ con tốt nghiệp đại học rồi, có thời gian hơn thì thong thả với “ Như thị”, với” Nghĩ từ trái tim” bs Đỗ Hồng Ngọc viết về Bát Nhã Tâm Kinh…
Cuộc thi “ Bà mẹ nuôi con khỏe” lần đầu hồi đó vào những năm đất nước còn khó khăn, xã hội ít tổ chức những sự kiện văn hóa lớn. Nên cuộc thi” Bà mẹ nuôi con khỏe” cấp thành phố hồi đó là một trong những sự kiện sôi nổi .
Nhìn lại những tấm hình trong cuộc thi. Hoàng Anh thấy mình hồi đó còn rất trẻ mà cũng hơi xinh xinh. Đã 26 tuổi và là mẹ của hai đứa con rồi mà vẫn còn vương nét sinh viên, rất khỏe khoắn trong trang phục quần jean xanh- áo sơ-mi vải màu trắng, dưới chân thì giản dị đeo đôi guốc mộc, trên đầu là một mái tóc dài xanh ngời bối thành củ tỏi vắt sau ót .
Khi Hoàng Anh vác trên vai đứa bé trai bụ bẩm khóc oe oe lên nhận giải trên sân khấu, hình ảnh đó làm cả hội trường cười òa. Phóng viên thì tha hồ tác nghiệp phỏng vấn bà mẹ và quay phim chụp hình em bé đọat giải.
Vì là bà mẹ thi được điểm cao nhất nên Hoàng Anh hân hạnh được người thầy thuốc mẫu mực là Viện sĩ,Tiến sĩ Dương Quang Trung trao giải thưởng tận tay. Rồi trong thùng quà thưởng to tướng, bên cạnh nhiều vật dụng xinh đep dùng cho trẻ em thì có card viết tay chúc mừng của bác sĩ Dương Quỳnh Hoa hồi đó làm giám đốc Trung tâm Nhi thành phố. Khi được phỏng vấn “làm sao trả lời giỏi vậy?” Hoàng Anh nói “là nhờ đọc sách của bs Đỗ Hồng Ngọc đó”.
Bà mẹ Hoàng Anh, Bs Đỗ Hồng Ngọc và “bé” Nguyên Giáp trong buổi Hội ngộ, Tâm tình về cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” do Hội quán Các Bà Mẹ tổ chức tại nhà GS Trần Văn Khê (2012).
Em bé Nguyên-Giáp bụ bẫm ngày nào, nay đang rất bận rộn với công việc của một cậu sinh viên trường Y năm cuối. Là tất bật với bài vở,với những môn thi, với những đêm thực tập thức trắng ở bệnh viện…
Cuộc thi “ Bà mẹ nuôi con khỏe” năm nào, chớp mắt thôi đã 1/4 thế kỹ! Cũng mới thôi!
(03/06/2010)
Đỗ Hồng Ngọc's Blog
- Đỗ Hồng Ngọc's profile
- 12 followers

