Đã từng có một làn sóng tẩy chay hàng Tàu diễn ra rất sớm vào những năm đầu thế kỷ trước, bắt đầu từ Sài Gòn và lan rộng ra trên cả nước ta. Điều gì đã làm người dân Việt Nam lúc ấy làm nên phong trào này? Ấy là bởi thế lực của của các Chú Khách Tàu ở Nam kỳ. Dân tàu di dân sang nước ta, làm kinh tế, làm thương mại, làm nông dân, làm ngư dân, làm tất cả những ngành nghề chân lấm tay bùn và cả làm tội phạm nữa. Họ lập bang hội, họ cưới vợ bản xứ, họ sinh con đẻ cái, phát triển tư bản, không gì là các Chú Khách không làm. Như tằm ăn rỗi, các Chú Khách đã thao túng gần như được toàn bộ nền kinh tế Nam kỳ những năm đầu thế kỷ 20. Dân Việt mất toàn bộ thị phần kinh tế ngay trên chính xứ sở của mình. Vậy làm thế nào để xử lý được vấn đề này? Học giả Đào Trinh Nhất đã đưa ra được giải pháp xác đáng để vãn hồi nền kinh tế trong nước lúc ấy và làm thế nào nào để Nam Trung Bắc chung tay chống lại được thế lực các Chú: đó là di dân vào Nam và phát triển nền kinh tế. Khi sách được xuất bản lần đầu tiên năm 1924, lịch sử sự đọc vẫn chưa quên, “Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ” đã từng gây nên một “best-seller lộn kèo”, sách vừa ra đến tiệm thì các nhóm Khách trú đã thuê sẵn người, mua vét cho kỳ hết mà đem đốt.
Trích đoạn: “Dân Tầu ở châu Á không khác gì dân Do Thái ở châu Âu, hễ gầm giời này, chỗ nào có thể kiếm ăn được, là thấy có gót chân họ, một người Hoa kiều ở Nam Dương quần đảo nói rằng: “Người đời chỉ nói phàm chỗ có ánh sáng mặt trời chiếu đến, không chỗ nào không có ngọn cờ nước Anh, ta cho rằng phàm chỗ có nước bể chảy đến, không chỗ nào không có người Hoa kiều”. Thật ra thì cái gót chân người Tầu, chẳng những thấy những chỗ có nước bể chảy đến mà thôi, tức chí hoang cắc như Tây Bá Lợi Á, xa xôi như mấy nước Nga, nước Áo ở giữa châu Âu cũng tìm thầy họ, có người nói: Hoa kiều rải rác ra các địa vực, rộng bằng người Anh, sức giàu có bằng người Do Thái, chịu khó như người Ấn Độ, nhanh nhẹn như người Nhật Bản, đến như cái số kiều dân của họ ở đâu cũng đông, thì không kiều dân nước nào bì kịp được.”
Tiên sinh họ Đào húy Trinh-Nhất sanh năm Canh Tí (1900) tại Thuận-Hóa (Trung-Việt), quán xã Thượng-phán, huyện Huỳnh-côi, tỉnh Thái-bình, mất trong một gian nhà nhỏ ở xóm Hòa-hưng, Sài-gòn, hồi chiều thứ sáu ngày 18 tháng giêng năm Tân-mão (23-11-1951, thọ 52 tuổi. Con trưởng cụ đình-nguyên nhị-giáp tiến-sĩ Đào-Nguyên-Phổ, rể cụ cử Lương-Ngọc-Quyến, sẵn thừa hưởng một gia giáo văn-học truyền-thống, tiên-sinh kiêm thông Hán-học, Pháp-học, thêm có văn tài, có sáng kiến, trong ngót 30 năm, đã để lại nhiều thành tích trong làng văn, làng báo.Tiên-sinh làm chủ bút, nếu không là chủ bút thì cũng là một phụ bút đắc lực cho nhiều nhật báo, tuần báo, tạp chí.
Từ năm 1920-1921, tiên-sinh bắt đầu bước vào làng báo, biên tập Hữu-thanh tạp-chí và Thực-nghiệp dân-báo.
Rồi làm Trung-hòa nhật báo cơ quan ngôn-luận của nhà Chung. Sau đó làm báo Đông-Pháp tức là phần phụ trương viết bằng Việt ngữ của tờ báo Pháp France Indochine.
Năm 1924-1925 vào Nam, làm sôi nổi dư luận Lục-tỉnh bằng cuốn Thế-lực khách-trú và vấn-đề di-dân vào Nam-kỳ.
Năm 1925-1926, tiên-sinh du-học Pháp. Năm 1929 về nước, ở luôn trong Nam làm báo, làm sách cho đến năm1939 bị trục xuất về Bắc.
Trong khoảng 10 năm đó, ở Sài-Gòn, tiên sinh đã làm báo Phụ-nữ tân văn, báo Công-luận, báo Thần-chung, báo Đuốc nhà Nam, báo Tân Văn, báo Việt-nam, báo Điễn-tin.
Sau hết là báo Mai, chính của tiên-sinh toàn quyền làm chủ (1937-1938).
Về Bắc, tiên-sinh làm báo Trung Bắc chủ nhật (1940-1945).
Tài nghệ năng lực làm báo của tiên-sinh bắt đầu xuất hiện rõ ràng ở báo Mai, để rồi phát triển dồi dào ở Trung-Bắc chủ nhật.
Sau năm 1945-1947, chạy loạn về, tiên-sinh làm báo Ngày mới, báo Việt thanh (Bắc), và đến năm 1948 làm báo Cải-tạo ở Hà-hội và sau thời-kỳ trở vào Gài-gòn làm trong bộ Ngoại-giao Nguyễn-Phan-Long (1949-1950), tiên-sinh viết nhiều bài lẻ tẻ ở báo Ánh sáng, báo Sài-gòn mới, báo Dân-thanh cho đến ngày lâm-chung.
Thời kỳ đặc sắc nhất trong đời làm báo của tiên-sinh là lúc làm báo Mai và Trung Bắc chủ nhật.
Từ phương diện tài liệu văn nghệ ở nội dung đến phương diện kỹ thuật ấn loát ở ngoại dung, ai cũng nhìn nhận tiên-sinh thật là một nhà báo có sáng kiến, có biệt tài làm cho một tờ báo nổi tiếng và hấp dẫn độc giả.
Tác phẩm của tiên-sinh :
Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam-kỳ.(Thụy ký - Hà-nội, 1924)
Thần tiên kinh (Dịch của A lan Kardec, 1930)
Nước Nhựt bổn 30 năm duy tân (Đắc-lập - Huế, 1936)
Đọc quyển này gợi nhớ lại bài viết gì của cụ Phan Châu Trinh về những thói hư tật xấu của người Việt. Nghĩa là những thứ được viết ra từ đầu thế kỷ 20, đến bây giờ vẫn đúng một cách giật mình. Tác giả là một người đi nhiều, quan sát kỹ, có đầu óc vĩ mô và tầm nhìn xa. Cách viết khoa học, lập luận chặt chẽ (đưa ra thực trạng, chứng minh bằng số liệu và lịch sử, kết luận rồi nêu giải pháp), giọng văn giản dị, khiêm nhường nhưng dứt khoát. Trong bối cảnh này phải nói là rất đáng đọc.
#ĐàoTrinhNhất #Thếlựckháchtrú #VàvấnđềdidânvàoNamKỳ Hoa Kiều ở Châu Á không khác gì dân Do Thái ở Châu Âu, dưới gầm giời này có chỗ nào có thể kiếm ăn được thì không thể thiếu dấu giày của họ. Một quyển khảo cứu Lịch Sử - Xã Hội của cụ Đào Trinh Nhất, nhà báo hàng đầu VN vào đầu thế kỷ 20, với lối viết mạnh dạn, gay gắt nhưng cũng bình dân. Quyển này từng bị cộng đồng Hoa Kiều miền Nam mua cho bằng hết để đem về đốt nhằm che giấu những bí mật bị cụ Đào viết ra! Sau gần 100 năm (ấn bản đầu tiên ra đời năm 1924), những rủi ro mà Hoa Kiều có thể tác động lên kinh tế miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung vẫn là bài học không bao giờ cũ. Vừa mới đấy Trương gia với kế “Thuyền cỏ mượn tên” của Gia Cát Lượng đã nhẹ nhàng xin 1 triệu tỷ của hệ thống ngân hàng, mới thấy câu “Phi ngã tộc loại, kỳ tâm tất dị” hay dịch Việt là “Khác máu tanh lòng” thật đúng đến kỳ dị!
Mình ấn tượng với phần đầu về thế lực khách trú hơn là phần sau - di dân vào Nam Kỳ. Người Tàu cứ chỗ nào làm ăn được là thấy mặt, trăm năm trước cũng thế mà giờ cũng thế, ở ta cũng thế mà ở tây cũng vậy. Đọc cuốn này làm mình nhớ clip hôm nọ vừa xem, ở khu phố giữa lòng Paris mà toàn nghe ní hảo không. Ghét thì ghét thật mà cũng phải phục sự đoàn kết của họ, dẫu đến đâu thì cứ là người Hoa nhất định sẽ chìa tay giúp đỡ, rồi lập đoàn lập hội bảo vệ quyền lợi của người mình.
Cuốn này 7 năm nữa là tròn 100 năm kể từ lần đầu xuất bản, vậy mới thấy khoảng cách một thế kỷ khiến ngôn ngữ thay đổi đến mức nào. Mình đọc mà không có chú thích từ chắc nhiều đoạn không hiểu, cách diễn đạt cũng rất khác.
Trong lúc đọc mình đã nhặt được một từ rất buồn cười : "cọc cạch" - mà người Nam dùng để chỉ người Bắc. Ghi lại nguyên văn chú thích ra đây. "Bắc Kỳ cọc cạch" có hai cách giải thích: - cách thứ nhất, "cọc cạch" nghĩa là khó nghe, chỉ người Bắc nói giọng khó nghe. - cách thứ hai, nguyên câu là "Bắc Kỳ cọc cạch lửa", chỉ người Bắc nghèo, không có bật lửa, diêm nên phải dùng hai hòn đá lửa thay thế. Đi đâu cũng nghe cọc cạch trong túi. =))) Không biết từ này bây giờ còn được dùng không?
Cộng điểm vì cụ đem đến nhiều cái chưa biết về cách người Hoa làm kinh tế ngày xưa. Trừ điểm vì cụ suốt ngày đề cao "nước mình được chính phủ Pháp bảo hộ", lại còn gọi người mình là Mọi rồi với cả văn phong cụ làm cháu nhức não quá. --> Điểm cộng thì ít mà điểm trừ thì nhiều nên rating mới thành như thế.
Trong lịch sử hơn hai ngàn bảy trăm năm của Việt Nam, có lẽ, không có một dân tộc nào có nhiều mối liên hệ, hiềm khích, duyên nợ với chúng ta hơn Trung Quốc. Từ một ngàn năm Bắc thuộc cho đến những người Hoa kiều đến sinh sống, lập nghiệp và làm ăn ở miền Nam vào thế kỉ 20, không sai chút nào nếu có ai đó nói rằng Trung Quốc, người Hoa hay văn hóa Trung Hoa đóng một vai trò quan trọng trong chiều dài lịch sử dân tộc ta.
“Lịch sử sự đọc vẫn chưa quên, ở vào thời điểm “Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ” xuất hiện, đã từng gây nên một “best-seller lộn kèo”, sách vừa ra đến tiệm thì các nhóm Khách trú đã thuê sẵn người, mua vét cho kỳ hết mà đem đốt,. Một phản ứng dội ngược, quyết liệt mang tính tự vệ tiêu cực của kẻ bị đánh trúng điểm yếu huyệt, thay vì phản biện ại bằng một công trình khoa học mang tính đối thoại, thì những người Hoa, một cách quen thuộc, lại sử dụng “chiêu trò” sức mạnh đồng tiền và khủng bố để bôi xóa sự thật.”
Đây là lời giới thiệu nằm sau cuốn sách khảo cứu lịch sử – xã hội “Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ” của tác giả Đào Trinh Nhất đã khiến tôi bị ấn tượng mạnh và tò mò để rồi đọc nó. Đào Trinh Nhất là một nhà văn và nhà báo xã hội nổi tiếng ở Việt Nam vào nửa đầu thế kỉ 20, ngòi bút của ông sắc bén, tư duy tiến bộ với những nhận định đi trước thời đại khiến cho những tác phẩm của ông luôn có sức hút lớn đối với người đọc, đặc biệt là người đọc ở thế hệ sau.
Cuốn sách được chia ra thành hai phần, phần đầu là nhận định của tác giả về thế lực của người Hoa ở Nam kỳ, và từ những nhận định đó, tác giả đưa ra những lý do tại sao phải di dân vào Nam kỳ và những khuyến nghị cho chính phủ để giải quyết vấn đề di dân vào Nam kỳ sao cho vừa có lợi cho người dân lại vừa có lợi cho chính phủ.
Một điểm tôi phải đề cao ở tác giả là óc quan sát sắc bén của ông, từ sự quan sát sắc bén đó mà những điều tác giả viết ra đều thể hiện được quan điểm rất rõ ràng, mãnh liệt, và chắc chắn chứ không hề tồn tại chút do dự hay nghi ngờ nào trong đó. Đào Trinh Nhất có khả năng truyền tải những vấn đề vĩ mô bằng ngôn ngữ bình dân, ngay cả việc tác giả sử dụng nhiều ngôn ngữ của người trí thức Việt ở thế kỉ 20 cũng không hề khiến cho người đọc ở thế kỉ 21 cảm thấy khó hiểu, và không cần phải chú giải quá nhiều trong sách, điều đó có thể chứng minh cho cách sử dụng ngôn ngữ viết vừa gần gũi, bình dân, thực tế mà vẫn đủ trang trọng để chuyển tải vấn đề mà mình muốn nói.
Khi nói về thế lực khách trú ở Nam kỳ, tác giả hầu hết đề cập đến sự lớn mạnh của thế lực người Hoa ở Nam, bên cạnh đó, ông cũng đề cập đến cách thức họ làm ăn, sinh sống, quần cư với nhau; lý do tại sao người Hoa kiều lại có thể sinh sống ở khắp nơi trên trái đất mà vẫn giữ được lòng tự tôn dân tộc và tính Hoa trong con người mình; đồng thời, tác giả cũng nhắc đến cách thức làm ăn buôn bán của người Hoa kiều, tuy không nói sâu và nhiều. Điều này cũng không khó hiểu, bởi suy cho cùng, Đào Trinh Nhất viết với tư cách là một nhà báo xã hội chứ không phải một chuyên gia hay học giả nghiên cứu xã hội, cho nên những trang viết của ông được dựa trên số liệu thực tế thu thập bằng kĩ năng nhà báo chứ không phải những điều tra xã hội học thu thập bằng kĩ năng của một học giả nghiên cứu. Chính điều này đã gây ra cho “Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ” một vấn đề rất lớn – đó là thiếu tính khách quan. Điều này thấy rất rõ ràng trong giọng văn cũng như cách thức biểu đạt của tác giả đối với người Hoa kiều và chính phủ bảo hộ Pháp, đây là hai “thế lực” có thể giúp ta thấy rõ ràng nhất quan điểm của tác giả. Với người Hoa, Đào Trinh Nhất cực lực phê phán bao nhiêu thì với chính phủ bảo hộ Pháp, ông lại ra sức đề cao và biện hộ bấy nhiều. Mặc dầu, tác giả cũng cố gắng đưa con mắt khách quan của mình vào để nhìn nhận về người Hoa và cũng cố gắng chỉ ra những thiếu sót của chính phủ bảo hộ, nhưng sau hết, tác giả vẫn viết theo lối mặc định người Hoa thì luôn hàm chứa những tính cách xấu xí, lọc lừa còn chính phủ bảo hộ dù có sai cũng là do tụi Hoa kiều đã làm trái đi chính sách của chính phủ. Việc thiên vị chính phủ bảo hộ trong khi lại cực lực bài bác Hoa kiều khiến cho một tác phẩm có góc nhìn thú vị và đáng lẽ ra là rất khách quan có một vết xước vô cùng không nhỏ một chút nào, và khiến tác phẩm của Đào Trinh Nhất vô hình trung mất đi tính khách quan đáng có của nó.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, ta cũng phải nhìn nhận được một điều mà Đào Trinh Nhất đã rất đúng và cũng rất khách quan khi đề cập đến – vấn đề di dân vào Nam kỳ và tính cấp thiết của vấn đề đó. Dưới con mắt và ngòi bút của mình, Đào Trinh Nhất lại nhìn nhận người An Nam với một thái độ khách quan khác hẳn với chính phủ bảo hộ hay người Hoa, ông nhận thức sâu sắc được bản tính của người An Nam, về nguồn cơn của việc ngại phải di dân hay về lý do tại sao người An Nam lại luôn muốn gắn bó với gia đình và quê cha đất tổ. Từ đó, ông chỉ ra những khuyến nghị của mình để giải quyết được triệt để vấn đề di dân. Thoạt nhìn, những vấn đề mà Đào Trinh Nhất chỉ ra có vẻ rất dễ thấy và giải pháp thì có vẻ đơn giản đến ngây thơ! Nhưng khoan hãy cười vào điều đó, bởi chính vì vấn đề đã luôn tồn tại ở đó mà lại chẳng có ai để ý đến nó đúng mực, cho nên kì thực chuyện giải quyết cũng hết sức đơn giản mà chưa từng có ai nghĩ đến đấy thôi.
Với “Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ”, không khó để nhận ra Đào Trinh Nhất là một người trí thức thuần Pháp như nào, những tư tưởng của ông bị ảnh hưởng vô cùng lớn bởi các tư tưởng tự do và khai sáng của Pháp, ông cũng là người mang chủ ý thiên vị với người Pháp, trong khi đó, với người Hoa thì ngược lại, cực lực bài bác. Nhưng bỏ qua một bên những điều đó, thì một điều chúng ta có thể học được và cần phải suy ngẫm, kể cả cho đến bây giờ, trong tác phẩm này của Đào Trinh Nhất – đó là vấn đề làm sao giãn được dân cư trên cả nước, làm sao để phát triển đồng bộ mọi vùng trên cả nước, và làm sao để người dân dù sống ở đâu cũng có thể an cư lạc nghiệp. Tôi cho rằng đây không chỉ là vấn đề của chính phủ Việt Nam thế kỉ 20, mà còn là vấn đề hiện tại mà đất nước ta vẫn đang phải đau đầu suy nghĩ.
Đây vẫn là một tác phẩm đáng đọc nếu muốn hiểu về tình hình Việt Nam nửa đầu thế kỉ 20, đặc biệt là tình hình xã hội – lịch sử ở Nam kỳ. Tất nhiên là tôi cũng khuyến cáo các bạn đọc khác nên giữ một thái độ trung lập và khách quan khi đọc, để đừng bị lôi theo những thiên kiến chủ quan của tác giả. --------------- Follow website: https://lenainthebookishland.wordpres...
Sách dù viết đã lâu nhưng những nhận định phần nhiều đã thật đúng đắn. Không chỉ nói về cái lợi cái hại của các chú mà các thói hư thói tốt của dân Nam Kỳ Bắc Kỳ cũng được nhắc tới.
Ví dụ một câu ngắn: “Cái tính này của dân tộc ta đã cổ lắm rồi, đã khiến cho ta là một giống người đẻ trước, mà bây giờ phải nhục nhã mấy bọn người sinh sau, tưởng là nay thì sực tỉnh rồi, nhưng xem chừng vẫn còn nồng nàn cố chấp lắm.”
Giọng văn và cách dùng từ ngữ rất hay. Cách viết xưa cũ này nay không thể thấy được trong các sách vở, dịch phẩm.
Khảo cứu của Đào Trinh Nhất đưa cho người đọc một góc nhìn thực tế về sự khác biệt của các “khách trú” - tên gọi khác của cộng đồng người Hoa tại Việt Nam, đặc biệt là tại Nam Kỳ. Cuốn sách chia làm hai phần với nội dung cơ bản: - Thế lực khách trú: Vì sao người Hoa lại đến đất An Nam? Người Hoa đem lại lợi nhuận gì cho người An Nam? Phương thức quản lý của xứ này với khách trú; các mánh lới của khách trú ở đất Nam Kỳ; lợi và hại lâu dài của việc để khách trú di dân... là những câu hỏi cơ bản mà phần này trở lại. - Vấn đề di dân, cụ thể hơn là từ Bắc và Trung vào Nam Kỳ. Vì sao phải di dân? Lợi và hại của việc di dân về lâu dài? Hạn chế của người Việt. —— Vì rất yêu Sài Gòn nên những thông tin ban đầu của bác Đào Trinh Nhất với tôi là khá ấn tượng. Những nội hàm sâu xa của bác và những cú tát thẳng mặt tối mà Hoa kiều mang lại cho đất Sài Gòn được tác giả truyền tải qua phần 1 rất tốt. Đến phần hai, tác giả lựa chọn việc giải thích nội hàm của việc di dân, sử dụng câu cú và từ vựng khó nên đâm ra tôi cũng không thể nắm hết. Tôi đọc bình luận, khá chắc nhiều người sẽ khó chịu vì cách mà tác giả đề cập đến người Việt nhưng nếu bạn đọc Bắc Kỳ tạp lục hoặc Tâm lý người An Nam thì bạn đọc sẽ thấy những cái xấu đó là bản chất của người Việt, thực sự là như vậy. Ở một cái nhìn rộng hơn thì người Việt thua người Hoa ở một điểm, mà tôi thấy rõ nhất, chính là tính “nâng đỡ”, không chỉ là trong làm ăn kinh doanh. Không phải nói như vậy là đánh đồng toàn bộ người Việt mình đều như thế, vẫn có nhiều bộ phận người Việt vẫn giúp đỡ nhau đi lên nhưng chủ đạo, nếu để ý, bạn đọc sẽ thấy người Việt thường có xu hướng như tác giả Đào Trinh Nhất đề cập. Vốn là cây bút thẳng thắn, nhìn đời hiểu chuyện, tại thời điểm Đào Trinh Nhất sống và cầm bút, ông đã viết đúng về bộ phận Hoa - Việt ở đất Nam Kỳ thời điểm đó. Nếu có điểm trù, tôi sẽ trừ mình vì ngôn từ không đủ nhiều để hiểu hết con chữ của ông. Một cuốn sách tốt để bạn đọc nghiên cứu hành vi, cuộc sống xã hội. Vì cuốn sách này là khảo cứu nên tính chính xác tương đối, bạn đọc có thể tìm thêm thông tin về hai cuốn nghiên cứu tôi có đề cập ở trên để tham khảo.
Khá bổ ích và thực tế (so với hoàn cảnh lịch sử của cuốn sách). Nhiều chỗ tác giả nghiên cứu rất nhiều số liệu và phân tích rất rõ ràng tỉ mỉ. Đầu mỗi chương đều tóm lược sẵn những luận điểm trình bày trong chương để độc giả dễ theo dõi. Nhiều đoạn viết ra là có dụng ý đối với chính phủ bảo hộ, vì hoàn cảnh bắt buộc chứ không phải là luồn cúi thực dân Pháp. Muốn thực hiện được ý đồ của tác giả quả không dễ, nếu cứ kình chống cả Hoa kiều Khách trú, cả Chính phủ, khác gì tự đưa mình vào thế bị đánh cả 2 mặt, mà bản thân cũng đâu phải là có chống lưng gì cho cam. Vậy mà chả hiểu sao một số review lại cho rằng tác giả thân Pháp. Tuy vậy, bản thân tôi cũng không phải là người thời đó (rõ ràng) nên nhận thấy một số yêu sách tác giả đưa ra cho Chính phủ làm có vẻ hơi mơ mộng, không khả thi, khi mà quyền lợi của Chính phủ chưa chắc đã đồng hướng với quyền lợi của người được bảo hộ. Dù sao cũng chẳng khó hiểu vì sao cuốn sách này lại bị Khách trú nó "tận diệt" như vậy. :))) Giá mà có nghiên cứu lịch sử nào chỉ rõ được ảnh hưởng của cuốn sách này đến hoàn cảnh thời đó thì tốt biết mấy. Mặc dù bị tận diệt nhưng vẫn có những bản thảo sống sót được đến tận ngày nay, chứng tỏ đã có người đọc. Mà đã có người đọc nghĩa là đã gieo được cái mầm mống trừ họa Khách trú vậy. Tuy nhiên với kiến thức hạn hẹp của mình, tôi không rõ là cái mầm đó nảy được lên đến mức nào, liệu có chết yểu không? Nhưng đáng buồn là tôi thiên về giả thiết là có, phải, có chết yểu.
Một ấn phẩm phải nói là cực kỳ giá trị vào thời điểm ra mắt. Ấn tượng và thích cách viết của cụ ở nửa đầu cuốn sách hơn. Phần sau cụ viết rất rạch ròi, chỉ rõ thực trạng, nguyên nhân, giải pháp theo thứ tự đã nêu. Tiếc là có lẽ giai đoạn sóng gió của nước nhà đã vùi dập mất một viên ngọc quý là cụ Nhất đây.
Tác giả nâng nước Đại Pháp dữ quá nên đọc có hơi bực một tẹo 😂 Nhưng dù sao cũng cần ý thức được mình và tác giả đang nhìn sự việc qua hai lăng kính thời đại khác nhau.
Nhìn chung thì đọc thú vị lắm. Thông qua cuốn này có thể biết được phần nào sự bành trướng của người Hoa thời bấy giờ ở Nam kỳ. Đồng thời cũng thấy được dân đen ta khổ tới nhường nào.
do tự cảm thấy kiến thức và tầm hiểu biết của bản thân còn hạn chế, trong lần đọc đầu tiên này, mình sẽ chỉ ghi lại một số suy nghĩ của cá nhân mình, để lần đọc sau có thể bản thân tự suy ngẫm thêm: - thông qua các thông tin tác giả đưa ra, các quan điểm, cách lập luận, rất chặt chẽ, có thể thấy được tầm kiến thức và hiểu biết sâu rộng của tác giả về vấn đề được bàn đến. - tác giả nêu những điều đáng học hỏi và cả những đặc điểm không nên học hỏi trong hệ tính cách chung của người Hoa. đây là thông tin để người đọc tham khảo, nhưng quyển sách mang nhiều hơi hướng bài Hoa, liệu có thông tin nào mang tính đánh giá hơi thiếu khách quan về người Hoa hay không, liệu còn có góc nhìn nào khác về người Hoa? - tầm quan trọng của vấn đề di dân Bắc và Trung vào miền Nam lúc bấy giờ và làm thế nào để thực hiện - liệu những ý kiến của tác giả trong quyển sách này chỉ nhằm thể hiện quan điểm của cá nhân tác giả thôi hay trên thực có tác động nào với chính quyền và nhân dân lúc bấy giờ không, và các cách làm này có thực tế (liệu có hơi mơ mộng) ở bối cảnh lúc bấy giờ không?
Vì không biết quá nhiều và chi tiết về thời kỳ mà quyển sách này được viết ra, tôi cho quyển sách này 5 sao bởi cách viết rõ ràng, chặt chẽ, gần gũi và dễ hiểu. Sách đưa ra cái thực trạng của khách trú, tại sao người Hoa lại giàu có và thế lực lớn đến vậy ở miền Nam, cũng như nêu ra rõ ràng các giải pháp, dù thực sự các giải pháp này cũng khó thực hiện vì nhờ cậy nhiều vào chính phủ thời Pháp đó. Năm nay tôi cũng 24 tuổi, và thực sự rất bái phục tác giả có thể viết được một quyển sách với cái nhìn chi tiết và văn phong như vậy vào năm 24 tuổi.
Một quyển sách có sự nghiên cứu sâu rộng của tác giả !Nhắc lại tinh thần quốc gia dân tộc, tự cường của người Việt Nam ta,đoàn kết mới vượt lên được tất cả,.Nhất mà nhớ lại quá khứ chống giặc phương Bắc Một bài học tự cường, tự lực cho nước nhà giàu mạnh.
Mình là người đọc sách rất thực dụng, trước khi đọc cuốn này mình hi vọng sẽ học hỏi được gì đó từ cách làm ăn của người Hoa nhưng khi đọc sách tác giả cũng chỉ dừng ở mức miêu tả lại cái bề nổi trong việc làm ăn của họ còn bí quyết thế nào cũng không biết. Cũng không trách gì được vì người Hoa nổi tiếng là kín tiếng trong chuyện làm ăn. Cố mãi mới đọc xong quyển này nhưng không học hỏi được gì.
Phần 1 và 2 việc tìm hiểu, quan sát và đưa ra các lập luận rất hấp dẫn mình, còn về phần cuối thì không cuốn hút mình như 2 phần đầu. Một quyển sách được viết từ đầu thế kỷ nhưng vẫn còn phù hợp và đáng đọc trong thực trạng hiện nay.
Về cái độ yêu nước + ghét Tàu, muốn làm cho dân nước phú cường thì bác ổn. Nhưng thời điểm viết là năm 1924, mà bác thở ra là "Nhà nước bảo hộ", rồi chê Cộng Sản Nga thì khá khôi hài!