(Vì đây là bài cảm nhận mình nộp cho giáo viên nên thay vì xưng "mình" như thường ngày, mình sẽ xưng "tôi" nha.)
“CHỐN VẮNG” - MIỀN HOANG CỦA CHIẾN TRANH VÀ CỦA LÒNG NGƯỜI
Sau gần một tháng không đọc sách văn học và tâm trí đang khao khát một thứ gì đó “Việt Nam” thì “Chốn vắng” đến với tôi một cách thật ngẫu nhiên và hợp tình hợp lý. Tôi chưa từng nghĩ mình sẽ đọc một tác phẩm dài bảy trăm trang, viết về một vùng đất mà bản thân không quen thuộc, của một tác giả từng bị giam giữ bảy tháng vì phản động… Nhưng hữu duyên làm sao, quyển sách này lại nằm ngay trong danh sách những tác phẩm cần đọc để ôn tập học sinh giỏi của tôi, đó là lý do trang đầu tiên của nó được mở ra và trang cuối cùng vừa được khép lại.
Truyện lấy bối cảnh ở một ngôi làng vùng sơn cước, miền Trung Việt Nam, gọi là Xóm Núi. Biến cố chính xoay quanh ba nhân vật: Bôn, Miên và Hoan. Miên trước đây là vợ của Bôn, cả hai ở với nhau được một thời gian thì Bôn vượt Trường Sơn đi vào Nam theo kháng chiến. Ngày tháng chồng chất, chiến tranh mỗi lúc một căng thẳng, Bôn bị lạc đồng đội, đó là khi Miên nhận được giấy báo tử của anh. Chịu tang Bôn hai năm, Miên lấy Hoan - một người thành đạt, giàu có và yêu thương vợ hết mực. Cả hai đang hạnh phúc cùng với đứa con trai trong một mái ấm khang trang thì Bôn quay về làng, sau mười bốn năm, với thương tật lẫn tâm hồn và thể xác. Miên quay trở về sống với Bôn vì nghĩa, vì sức ép của những người xưa nay vẫn có truyền thống biết ơn người chiến sĩ cách mạng, nhưng thực ra trong lòng chị rất yêu thương gia đình nhỏ của mình và Hoan.
“Chốn vắng” có hai phương thức trần thuật chủ yếu là trần thuật theo ngôi thứ ba của người kể chuyện giấu mình và trần thuật theo ngôi thứ ba của người kể chuyện giấu mình, nhưng điểm nhìn và lời thoại lại theo ngôn ngữ, giọng điệu của một nhân vật nào đó (nửa trực tiếp) (dựa theo cách phân chia của Trần Đăng Suyền). Các chương truyện là sự đan xen giữa hình thức tự sự theo ngôi thứ ba dưới điểm nhìn của từng nhân vật Bôn, Miên, Hoan và hình thức tự sự theo ngôi thứ ba người kể chuyện giấu mình khi kể về các cuộc hội họp và bàn luận của cư dân Xóm Núi (không theo điểm nhìn của nhân vật nào). Nhưng nhìn chung, dày đặc hơn cả là phương pháp trần thuật theo ngôi thứ ba dưới điểm nhìn của nhân vật và có sự chuyển giao giữa các điểm nhìn. Theo Trần Đăng Suyền: “Những nhà văn có tài kể chuyện, nhìn chung, không bao giờ dẫn dắt câu chuyện từ đầu đến cuối theo một điểm nhìn duy nhất mà thường là chuyển dịch, chuyển dịch một cách tinh tế nhiều điểm nhìn, từ điểm nhìn này qua điểm nhìn khác”. Lợi thế của cách kể chuyện này là cho phép nhân vật được bộc lộ suy cảm, ước muốn của bản thân mà người đọc vẫn có thể tiềm cận chúng một cách khách quan, có đủ “tỉnh táo” để đánh giá, nhận xét tính cách nhân vật. Với “sự song trùng điểm nhìn trần thuật (điểm nhìn của người trần thuật đứng ở người truyện và điểm nhìn của nhân vật)” (Trần Đăng Suyền), “Chốn vắng” khắc họa tâm lý nhân vật một cách tế vi, phân trần cả những góc khuất tâm hồn sâu kín nhất của Bôn, Miên và Hoan. Câu chuyện khởi nguồn từ hiện tại, sau đó thông qua suy nghĩ của từng nhân vật mà hé lộ quá khứ, từ đó góp phần lý giải tâm lý và hành động của nhân vật trong hiện tại. Ngôn ngữ “Chốn vắng” giàu tính khẩu ngữ, hào sảng, rất gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của mọi người nói chung và người vùng núi nói riêng, song đây không phải là thứ ngôn ngữ quá mới lạ trong các tác phẩm nói về đề tài hậu chiến.
Vì truyện kể theo điểm nhìn của từng nhân vật, cho thấy mỗi nhân vật đều có một sự thống khổ riêng, một niềm riêng, một ước vọng riêng nên rất dễ dàng tạo nên sự đồng cảm trong lòng người đọc. Ngay cả Bôn, một nhân vật mà tôi rất thiếu thiện cảm trong xuyên suốt mạch truyện, đến trang cuối cùng, tôi đã vơi đi sự ghét bỏ của mình và dành niềm cảm thông cho anh. Tác giả lựa chọn cho anh một cái tên thật gần gũi với con người anh: Bôn, “bôn” trong “bôn ba”, nghĩa là đi nhiều, trải nghiệm nhiều, chịu nhiều gian lao, vất vả. Tuổi trẻ, Bôn lao vào chiến trường, là một chiến binh trung thành mang sứ mệnh vệ quốc. Lăn xả trên tiền tuyến, lắm lúc Bôn may mắn thoát được bom rơi đạn lạc, nhưng sự khốc liệt thời chinh chiến vẫn để lại nhiều vết sẹo trên người anh và cả trong tâm hồn anh. Bôn đã từng vừa khiên xác của tiểu đội trưởng vừa chiến đấu với lũ kền kền trong hơi tàn để mong chôn cất được người đồng đội ở đồng bằng, anh từng lưu lạc sang Lào, ăn ở cùng với nàng Thoọng, từng đau đáu nhớ nhung Miên khi ngắm vầng trăng tròn… Dù anh đã thoát khỏi chiến tranh, nhưng anh vẫn sống trong một thế giới, nơi mà ở đó tồn tại những đồng đội có “gương mặt tan loãng, không lông mày lông mi, miệng cười không bờ môi chỉ rõ hai hàm răng trắng”. Rất dễ nhận biết, Bôn là một người rất nặng tình nặng nghĩa, với đồng chí, với Miên, và cũng là một người bị chiến tranh giày xéo, một nạn nhân của chiến tranh. Nội tâm của Bôn bị giằng xé giữa ham muốn chinh phục tình yêu đầu tiên, sự ghen tuông, thù oán và lòng biết ơn, cam chịu, nỗi mặc cảm, tự ti. Nếu sự ghen tức, oán hận trong Bôn làm mình ghét nhân vật này bao nhiêu, thì nỗi mặc cảm và tình yêu của anh lại khiến mình cảm thông và chia sẻ. Điều này từng được phát biểu dưới điểm nhìn của Miên: “Gia tài của Bôn đây, sau mười bốn năm rời xa làng xa xóm… Ngoại trừ bánh xà phòng anh ấy đưa cho ta, phần còn lại đúng là chiếc bị ăn mày…”. Song nói một cách công bằng thì Bôn là nhân vật có ý nghĩa khái quát chủ đề tác phẩm, nhan đề “Chốn vắng” lần đầu tiên và duy nhất xuất hiện trong tác phẩm là qua suy nghĩ của Bôn: “Phía sau gương mặt ấy, những nương tiêu, nương cà phê, những xóm làng nhấp nhô cao thấp và xa hơn nữa là giải đồng lúa hẹp nối tới miền cát ven biển phía Đông, tất cả với anh giờ đây là hoang mạc là chốn vắng”. Có lẽ, Bôn không thuộc về vùng đất này, về thế giới anh đang sống, nơi người ta có thể nhìn thấy anh, mà Bôn thuộc về một thế giới khác, cái thế giới đã qua nhưng chẳng hề mất đi những ai đã từng sống trong nó.
Người phụ nữ “có cuộc đời tình ái ly kỳ” cũng mang một cái tên thật mĩ miều: Miên. Mình nghĩ, “miên” trong “mộc miên”, một loài hoa tượng trưng cho tình yêu thủy chung và son sắt của người con gái. Quả thực, Miên rất rạch ròi giữa hai chữ “tình” và “nghĩa”. Trở về với Bôn vì nghĩa nhưng Miên chưa bao giờ yêu Bôn, sự thủy chung của chị mãi dành cho Hoan - người chồng hợp pháp của mình và là người cha của con mình. Miên đồng thời cũng là một người rất nhân hậu. Chị sẵn sàng cho gia đình Tá vay gạo, vì dù không thích Tá nhưng chị vẫn nghĩ tới những đứa cháu Bôn. Chị sẵn sàng chăm sóc và tha thứ cho Bôn dù anh đã làm nhiều điều lầm lỗi với mình, Miên muốn nom Bôn như anh trai, hết tình vẫn còn nghĩa. Hơn thế, Miên còn là hình tượng điển hình cho người phụ nữ thời hậu chiến, kiểu người vì hoàn cảnh, vì sự thúc giục ngầm ẩn của xóm làng, vì cái gọi là hàm ơn, đã phải chung sống một cách cam chịu với người mà mình chẳng yêu thương. Sự đấu tranh nội tâm của Miên là sự đấu tranh của tình yêu, đấu tranh cho khát vọng được sống tự do và hạnh phúc.
Mảnh ghép cuối cùng của “Chốn vắng” là Hoan. Hoan có nghĩa là vui, là hạnh phúc. Cuộc đời Hoan nếu so với hai nhân vật chính còn lại thì quả thực rất suôn sẻ, may mắn. Gia đình anh từng bị tịch thu đất, anh cũng từng bị bà trưởng cửa hàng lừa gạt, nhưng các sự kiện đó cũng chỉ như hạt muối ở đại dương, chỉ khiến nước biển thêm mặn mòi chứ không thể khỏa lấp được đại dương. Ngần ấy biến cố xảy ra rồi mọi việc của đâu vào đấy. Hoan buôn may bán đắt, cưới được người mình yêu, xây dựng một mái ấm khang trang, là niềm mong ước của biết bao người dân Xóm Núi. Hoan rất kính trọng cha, anh xem ông như là một đấng tối cao, người đã phù trợ anh trên hết quãng đường đời dù đã mất đi. Đồng thời, Hoan cũng là một người đàn ông của gia đình, anh rất yêu Miên, tôn trọng những quyết định của nàng; có đôi lúc anh ghen tuông mù quáng nhưng khi hiểu được tình cảm của Miên dành cho mình, anh đã không ngừng yêu thương và xót xa cho vợ.
“Chốn vắng” đề cao tình yêu và khát vọng của con người - cái đẹp bị chiến tranh tàn phá. Giả sử năm ấy đất nước thái bình, Bôn không cần đi lính thì bi kịch của cả ba nhân vật Bôn, Miên, Hoan đã không thể xảy ra. Bôn là hiện thân của tàn dư của chiến tranh, một hình hài mang đầy vết tích đến mức anh phải tự ti, mặc cảm, bất lực với bản thân mình. Thiên tiểu thuyết lên án nhiều hiện thực cay đắng cả thời chiến tranh và hậu chiến: công cuộc Cải cách ruộng đất mang đến đau thương cho các gia đình, nhiều người phụ nữ phải cam chịu lấy chồng là thương binh để bày tỏ niềm biết ơn, chiến tranh gây nên bao bạo tàn trên xác thịt và tâm hồn con người,...
Tôi không hiểu vì sao tác phẩm của Dương Thu Hương lại bị cấm phát hành ở Việt Nam. Trước đây đã có rất nhiều ý kiến phê phán “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh vì cho rằng nó phủ nhận thành tựu của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước; tuy nhiên sau đó, tác phẩm đã được tái bản, bởi người ta nhận ra, sâu bên trong sự gay gắt khi nói về chiến tranh là một tinh thần cao đẹp của chủ nghĩa nhân văn. Lẽ nào “Chốn vắng” của Dương Thu Hương không có cái may mắn được xem xét cẩn thận? Tuy nhiên, giải thưởng Cino Del Duca - một giải thưởng danh giá của văn học mà Dương Thu Hương nhận được đã hoàn toàn khẳng định giá trị về mặt nghệ thuật và nội dung tư tưởng của các tác phẩm của bà, trong đó có “Chốn vắng”. Đối với tôi, điều mà cả hai tác phẩm “Chốn vắng” và “Nỗi buồn chiến tranh” làm được đó là phản ánh sự khốc liệt của chiến tranh đối với thể xác và tâm hồn con người, nhưng không phải là để bác bỏ cuộc đấu tranh giành hòa bình của dân tộc, mà thông qua đó, hai tác phẩm khiến người đọc thấm nhuần thêm nỗi đau mà chiến tranh mang lại cho con người; chúng giúp cho ta học được cách nhìn nhận lại quá khứ, biết ơn những trang anh hùng nghĩa sĩ đã đóng góp máu xương và ý thức được nền hòa bình mà ta đang có.