Qua tên gọi Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam cũng có thể đoán định được nhiệm vụ của chuyên luận là nhận diện đặc trưng thể loại truyền thuyết và nghiên cứu việc văn bản hóa truyền thuyết - nhiệm vụ thứ nhất thiên về lý thuyết, nhiệm vụ thứ hai thiên về tính thực tiễn. Để giải quyết nhiệm vụ, chuyên luận chia thành 3 chương:
- Chương 1: Truyền thuyết với tư cách là một thể loại văn học dân gian (tr.11-122) không phải là chương mang tính đề dẫn mà nó đã nhập cuộc và làm tròn một nhiệm vụ quan trọng là xác lập được thể loại truyền thuyết với những đặc trưng như cảm hứng tôn vinh lịch sử, cảm hứng trải nghiệm thế giới siêu hình hay một số đặc trưng thi pháp về thời gian, không gian, nhân vật. Như vậy, không dừng lại việc định danh hay bàn về “những vấn đề tổng quan” mà chương này đã giải quyết các vấn đề định tính, định lượng của thể loại.
- Chương 2: Văn bản hóa truyền thuyết dân gian trong sử và thần tích (tr.123-200) khảo sát và lý giải về việc văn bản hóa truyền thuyết trong sử và thần tích. Do hoàn cảnh lịch sử, truyền thuyết dân gian Việt Nam được các sử gia quan tâm từ rất sớm và đã được chép vào sử để bổ sung cho thời khuyết sử. Từ niềm tin về sự linh thiêng và hiện hữu của linh khí núi sông, của các vị anh hùng có công dựng nước và giữ nước, của các vị thần mà phép thiêng luôn được tin là hiện hữu ở cõi trần, truyền thuyết đã được chép vào thần tích để được dân chúng thờ tự.
- Chương 3: Văn bản hóa truyền thuyết dân gian trong văn xuôi trung đại (tr.201-268) tìm hiểu những đặc trưng thể loại truyền thuyết dân gian trong văn xuôi trung đại và vai trò của nó trong sự hình thành và phát triển của các giai đoạn văn xuôi trung đại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy: giai đoạn thế kỉ X-XIV người ghi chép chỉ chấp nhận cách kể truyền thuyết theo hướng tôn vinh lịch sử một cách tuyệt đối; sang thế kỉ XVIII-XIX, các văn bản truyền thuyết đã chấp nhận nhiều cách kể với tinh thần khảo cứu, phân tích cao.