Tôi mở Kinh Pháp Hoa trong một chiều yên vắng và không gian bỗng như đổi sắc. Tựa phẩm vang lên không phải như một lời dẫn nhập, mà như một cánh cửa mở ra giữa chốn trần thế - nơi đỉnh Linh Thứu mây phủ, Đức Phật nhập định “Vô lượng nghĩa xứ”, ánh sáng từ nhục kế soi khắp muôn cõi. Không phải ngôn ngữ, mà là năng lượng. Không phải lý trí, mà là rung động. Tôi khẽ nhắm mắt và nhận ra: có lẽ mình đang ngồi đó giữa vô số người, lặng yên dưới chân Phật.
Khi bước vào Phẩm Phương Tiện, tôi hiểu ra điều cốt lõi: Pháp Hoa không chia pháp môn, không phân người tu. Không còn Tiểu thừa hay Đại thừa, chỉ còn Nhất thừa Phật đạo. Tất cả mọi phương tiện như bè qua sông, như xe trâu gỗ để dụ đứa trẻ trong ngôi nhà cháy, chỉ để dẫn đến một cỗ xe báu cuối cùng chở ta về nơi chân thật. Pháp Hoa đảo lộn mọi phân chia. Như một dòng suối lớn đổ vào mọi khe suối nhỏ bé, hợp nhất mọi hình tướng tu hành về một đích đến duy nhất: thành Phật.
Tôi dừng lại rất lâu ở Phẩm Thí Dụ, nơi Đức Phật kể câu chuyện ngôi nhà đang cháy - một trong những ẩn dụ từ bi và thâm sâu bậc nhất trong Kinh Pháp Hoa. Ngôi nhà lớn, cũ kỹ và mục nát chính là thế gian này, nơi lửa tham sân si đang bốc cháy từng ngày, từng giờ. Những đứa trẻ ham chơi trong nhà không biết hiểm họa đang kề bên, cứ mải mê vui thú, không chịu chạy ra. Người cha thương yêu không quát mắng, không ép buộc mà dùng phương tiện thiện xảo, hứa sẽ cho các con những món quà yêu thích: xe dê, xe nai, xe trâu lớn. Nghe vậy, lũ trẻ mới chịu chạy ra, thoát khỏi lửa cháy. Nhưng rồi, thay vì cho mỗi đứa một loại xe như đã hứa, người cha ban tặng đồng đều một chiếc xe báu vĩ đại quý giá hơn mọi thứ từng được nhắc đến. Qua đó, tôi thấy rằng Phật pháp không dối trá mà chính là phương tiện tạm thời để đưa người ra khỏi nguy hiểm trước rồi mới hiển bày chân lý tối hậu. Ba cỗ xe là tượng trưng cho Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát - những pháp môn khác nhau nhưng rốt ráo, chỉ có một con đường duy nhất: Phật thừa. Lũ trẻ trong nhà không ai khác là chính là tôi, là tất cả chúng sinh. Ta cứ mải chơi giữa vòng quay của dục vọng, thành công, danh lợi, đau khổ, hoang mang… mà không hay mình đang sống trong ngôi nhà cháy. May mắn thay, Đức Phật không bỏ rơi ai trong đó.
Phật dùng mọi cách để đánh thức lời kinh, giấc mơ, một ánh mắt từ bi hay một lần ngã quỵ.
Phẩm Trì dạy tôi rằng có thể tôi không đủ lý luận để thuyết pháp, không đủ trí nhớ để thuộc hết các phẩm, nhưng nếu tôi đủ lòng để cúi chào một bông hoa rơi, đủ lặng để nghe một hơi thở đi qua, đủ sáng để nhận ra cơn giận đang sinh khởi rồi thở với nó bằng từ tâm thì cũng là đang trì tụng Pháp Hoa bằng chính đời mình rồi.
Phẩm Dược Thảo Dụ là một ẩn dụ sâu xa và dịu dàng. Phật ví mình như mây lớn rưới mưa pháp, tưới đều khắp mọi loài cây cỏ, không phân biệt lớn nhỏ, cao thấp, căn cơ hay trí độ. Tất cả đều đón cùng một cơn mưa nhưng hấp thụ theo khả năng riêng. Tôi chợt nhận ra: Phật không chọn ai để ban pháp, chỉ cần đất lòng còn khát và cây tâm còn sống là đã có thể nảy mầm.
Rồi đến Phẩm Đề Bà Đạt Đa, có thêm nhiều vỡ lẽ: người từng là kẻ thù và từng tìm cách hãm hại Đức Phật, vậy mà lại được thọ ký thành Phật. Cái nhìn ấy vượt khỏi lằn ranh thiện ác. Không còn ai bị loại trừ, không có hình tướng nào không thể hóa thân. Cùng lúc đó, Long Nữ, một cô bé rồng tám tuổi thành Phật ngay trong khoảnh khắc. Không cần thân nam, không cần đợi kiếp sau, không cần tích lũy công hạnh vì Phật tánh vốn sẵn đủ và vượt khỏi mọi điều kiện. Chính nơi mình đang đứng, chính lúc này, nếu quay về thì ngay đó là đạo tràng, ngay đó là giải thoát.
Khi đọc đến phẩm An Lạc Hạnh, tôi không thấy một lý thuyết nào quá cao siêu mà chỉ nghe lời Phật dạy rằng người trì Kinh Pháp Hoa muốn đi đến cùng, muốn bảo hộ được pháp ấy thì trước hết phải biết đi trong an lạc, nói bằng ái ngữ, sống bằng lòng không tranh cãi. Đừng phán xét, đừng khinh ai thấp, đừng hơn thua bằng trí thức hay địa vị. Phật không bảo người trì kinh phải lập luận giỏi, mà khuyên nên xa những chỗ ồn ào, tránh người phá giới, gần gũi bậc hiền, ăn ít, ngủ ít, ít mong cầu vì lòng càng ít vọng thì đường càng sáng. Người trì kinh nếu không có an lạc thì lời nói dễ thành dao, mắt nhìn dễ thành lửa, ý nghĩ dễ thành rào chắn giữa mình và người khác.
Khi đến Phẩm Tùng Địa Dũng Xuất, lòng tôi bỗng chùng xuống nhưng không phải vì buồn, mà vì xúc động trước một cảnh giới vừa hùng vĩ vừa khiêm hạ: hàng vạn vạn Bồ Tát đồng thời trồi lên từ lòng đất. Không từ thiên giới, không từ cõi tịnh, không từ nơi xa lạ nào cả mà từ ngay nơi đây, dưới lòng đất Ta Bà này. Họ không ồn ào, không khoe đạo, không tự xưng danh hiệu mà chỉ hiện thân với ánh sáng tỏa ra từ nội lực tu hành đã âm thầm tích lũy qua vô lượng kiếp. Khi các đại đệ tử ngạc nhiên vì chưa từng thấy những vị Bồ Tát ấy, Đức Phật chỉ cười và bảo: “Đây là đệ tử của ta, những người đã ở dưới lòng đất này từ lâu, nay đến lúc trồi lên để hộ trì Kinh Pháp Hoa trong thời mạt pháp.” Phẩm này không làm tôi muốn ngước nhìn về trời mà khiến tôi muốn cúi đầu thật sâu xuống đất, chạm trán vào mặt đất của tâm mình để cảm ơn những điều âm thầm đang dưỡng nuôi mình mà mình chưa từng biết ơn. Trồi lên từ đất không phải để chứng tỏ đạo lực mà để hiển lộ rằng: nếu ta đủ kiên nhẫn với bóng tối, đủ yêu thương cái đang bị che phủ, thì hoa sen sẽ tự tìm đường vươn lên mà không cần ai nâng đỡ.
Tôi đọc tiếp đến Phẩm Như Lai Thọ Lượng và thấy một nỗi cô đơn trong lòng được gỡ bỏ. Đức Phật không thật sự nhập Niết bàn. Ngài chỉ “ẩn hiện” như vầng trăng sau mây. Vì chúng sinh chưa đủ căn cơ nên tưởng là mất. Nhưng thật ra Ngài vẫn ở đây trong từng cơn gió nhẹ, trong đôi mắt từ bi nào đó giữa phố đông, trong một khoảnh khắc chánh niệm khi ta rót trà, nghe chim hót, ngồi lại với chính mình.
Phẩm Tùy Hỷ Công Đức không nói về tu bao lâu, hiểu bao nhiêu hay chứng ngộ được mấy tầng trí tuệ mà chỉ hỏi ta một điều rất đơn giản: con có vui thật lòng trước thiện hạnh của người khác không? Phật dạy: nếu có ai nghe Kinh Pháp Hoa mà vui mừng, nếu có ai thấy người khác trì tụng, giảng nói, viết chép, sống theo mà khởi tâm tùy hỷ thì người ấy cũng được công đức lớn không thể tính lường, vì họ đã phá được một trong những gốc rễ sâu nhất của vô minh là tâm ganh tỵ.
Trong Phẩm Như Lai Thần Lực, Đức Phật không còn là người thuyết pháp nhỏ nhẹ mà trở thành trung tâm của một vũ trụ rực sáng thần lực, nơi thân Phật phóng ánh sáng từ tướng lưỡi rộng dài phủ khắp đại thiên thế giới, nơi chư Phật mười phương đồng thời hiện thân và tất cả đều nhất tâm tán thán Kinh Pháp Hoa là pháp lớn nhất, sâu nhất, khó tin nhất trong tất cả các pháp. Ngài cũng tin rằng Kinh Pháp Hoa sẽ được trao lại cho những ai đủ lòng tin, đủ tâm trì, đủ hạnh lặng thầm và người đó chính là cánh tay nối dài của Như Lai giữa đời mạt pháp. Tôi hiểu rằng thần lực của Như Lai không phải là biến hóa ngoạn mục hay quyền năng siêu phàm, mà chính là khả năng trao truyền niềm tin bất động vào Phật tánh nơi mọi chúng sinh.
Diệu Âm trong Phẩm Diệu Âm là một vị Bồ Tát từ thế giới xa xôi đã từng cúng dường vô số Phật, có năng lực thị hiện vô lượng thân tướng để độ sinh nhưng chưa từng rời khỏi tâm Bồ đề hay quên đi gốc rễ. Ngài có thể hóa thành vua, thành đồng nam đồng nữ, thành tiên thành trời, thành rồng hay thành bất kỳ ai mà người cần được độ có thể tin cậy và lắng nghe. Từ thân tướng ấy, ngài nói Pháp bằng âm của trí tuệ khiến chúng sinh lìa mê mà không sợ, rời chấp mà không hoang mang. Tôi đọc và nhận ra: Diệu Âm không phải một nhân vật xa lạ, mà là một hạnh nguyện sống động có thể có mặt trong bất kỳ ai đủ sâu và đủ nguyện. Tôi nghiệm thấy, mỗi khi gặp người đau khổ, hãy hóa thân thành một thân tướng họ có thể tin mà không cần giảng lý, chỉ cần hiện diện mà không cần dạy bảo, chỉ cần chạm đúng nơi đau nhất bằng lòng không sợ hãi.
Phổ Hiền Bồ Tát xuất hiện ở phẩm cuối như để gật đầu xác tín cho những gì đã được nói suốt hai mươi bảy phẩm trước, như một người bạn đến muộn nhưng mang theo tấm áo dài nhất, rộng nhất để khoác lên toàn bộ lời kinh. Phổ Hiền là vị Bồ Tát đại hạnh không chỉ nguyện tin Kinh này mà còn khuyến phát tất cả chúng sinh nên trì tụng, giảng nói, viết chép, gìn giữ và sống với Kinh bằng toàn bộ thân - khẩu - ý của mình. Nhưng hơn thế, Ngài còn hứa rằng: ai thực hành Kinh Pháp Hoa sẽ được Ngài hiện thân che chở, giúp diệt trừ nghiệp chướng, tránh ma chướng và vững bước trên đạo lộ.
Gấp lại hai mươi tám phẩm Kinh Pháp Hoa, tôi không thấy một cái kết mà thấy một chân trời mới - nơi từng câu kinh như một vì sao. Và mỗi lần đọc lại là một lần bầu trời thay đổi. Tôi không đi tìm ranh giới giữa Tiểu thừa và Đại thừa, không sa vào tranh luận đúng sai hay cao thấp mà chỉ cố góp nhặt những hạt ánh sáng rơi vãi trên con đường chữ nghĩa, những ý niệm tinh túy có thể chạm được vào lòng mình. Dù chưa thể thấu cảm hết hoặc nhận ra tầng tầng lớp lớp ẩn dụ của từng phẩm, nhưng cũng chính vì vậy mà tôi muốn để dành để mở ra đọc lại vào một sáng trời trong hay một chiều mưa nặng hạt hoặc một đêm mất ngủ chênh vênh. Kinh Pháp Hoa không chỉ để nghiên cứu mà còn để làm bạn qua năm tháng. Tôi tin rằng ở mỗi thời điểm, mỗi tâm trạng, mỗi mùa của cuộc đời, tôi sẽ gặp lại những đoạn Kinh cũ bằng một đôi mắt mới và khi ấy, những gì chưa cảm hôm nay sẽ hé nở như một cánh sen muộn, giữa vũ trụ đa tầng mà Đức Phật đã gợi mở như một bản đồ thời gian nối dài vô lượng kiếp. Và có lẽ, điều đẹp nhất mà Kinh để lại không phải là sự hiểu biết mà là lòng khiêm cung. Không phải để ta bước lên cao mà để ta học cách cúi xuống trước một đoá hoa, một giọt mưa, một người lạ mặt, hay một đứa trẻ đang chơi giữa căn nhà cháy mà ta từng là. Nếu có một điều sau cùng tôi muốn giữ lại thì đó là niềm tin: rằng mỗi người ở bất kỳ tầng lớp, giới tính, quá khứ hay nỗi đau nào đều có thể thành Phật nếu một ngày họ đủ tin vào đóa hoa đang lặng lẽ nở trong tim mình.