Nội dung thuật lại câu chuyện của nhân vật Oanh, một phụ nữ sống trong bối cảnh xã hội Việt Nam nửa đầu thể kỷ XX. Vì những cám dỗ của lợi ích vật chất, Oanh đã bỏ Thiện – người chồng rất mực yêu thương và tôn trọng cô cùng đứa con gái mới sáu tuổi, để đi theo ông Hội đồng Đàng. Song đến cuối cùng, Oanh cũng bị ông Hội đồng bỏ rơi. Lúc bấy giờ, Oanh mới tỉnh ngộ và cảm thấy ăn năn. Cô quay về mong cầu xin sự tha thứ của thầy Thiện, thế nhưng chính hành động của Oanh trước đây đã làm cho Thiện cạn nguội tình cảm. Xấu hổ trước những lỗi lầm mình đã phạm phải, Oanh quyết tâm ra đi để sám hối.
Hồ Biểu Chánh (1885-1958), người làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc ấp thành nhất xã Bình xuân thị xã gò Công, tỉnh Tiền Giang).
Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn.
Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 73 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp.
Tác phẩm Hồ Biểu Chánh sở trường về viết văn xuôi tự sự. Đề tài phần lớn là cuộc sống Nam Bộ từ nông thôn đến thành thị những năm đầu thế kỷ 20 với những xáo trộn xã hội do cuộc đấu tranh giữa mới và cũ. Cách diễn đạt của ông nôm na, bình dị. Ông đã có những đóng góp to lớn vào sự hình thành thể loại tiểu thuyết trên chặng đường phôi thai. Ông để lại một khối lượng sáng tác không nhỏ: 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu-phê bình. Ngoài ra, còn có các bài diễn thuyết và 2 tác phẩm dịch.
Hun nhiều thì gọi là hun trơ hun trất. Khóc nhiều thì gọi là khóc choàm ngoàm. Trong cuốn này có rất nhiều từ kiểu vậy. Dễ thương. Còn lại, cốt truyện thì chưng hửng. Tính cách nhân vật thì vô lý hết sức.
Cốt truyện đơn giản, gãy gọn, tình tiết diễn biến nhanh, đánh vô trọng tâm. Nếu có lên phim thì biên kịch thêm thắt vô sẽ kịch tính theo lối thời nay, hấp dẫn lắm chừng.
Câu chuyện về cô nọ bỏ chồng, y như tên truyện, mạch văn dễ đoán, dễ hiểu. Cuốn này còn có một anh em tên Bỏ vợ nữa, để mình đọc thử coi sao. Mình thấy Bỏ chồng đáng lẽ có thể khai thác thêm nữa, nhưng chắc lúc ấy cụ Chánh lười nên sách mỏng hết sức.
Bỏ chồng đọc chơi chơi vui vui chớ mình không ấn tượng lắm, chỉ ấn tượng nhiều đoạn biên tập không kỹ càng, thiếu chữ nghĩa tùm lum hà.
Ở đời có rất nhiều cám dỗ, sống thì phải theo đạo lý dù không giàu như người khác nhưng cũng được năm tháng bình yên về tuổi già. Chứ hơn thua rồi đi qua làn ranh sai trái thì có hối hận cũng mang trong mình nhưng sắc thái đắng cay!
Đáng lý phải cho 1 sao chứ không phải 2 sao bởi vì cốt truyện đọc chưng hửng và tính cách nhân vật không hấp thụ nổi. Tuy nhiên muốn ủng hộ tiểu thuyết Việt Nam 1 chút với lại khá thích cách viết văn chân chất của cụ Hồ Biểu Chánh.