Chủ Tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Văn hóa làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên đi lợi ích riêng. Văn hóa làm thế nào cho mỗi người dân Việt nam từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc của mình nên được hưởng.”
Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam góp phần xây dựng một ngành khoa học đang trên đà hình thành là văn hóa học, nhằm cung cấp một số khái niệm để nghiên cứu bản sắc văn hóa Việt Nam.
Có hàng trăm khái niệm về văn hóa nhưng chưa có khái niệm nào được xem là "tuyên ngôn", bởi cách định nghĩa văn hóa còn gắn với mục đích, hoàn cảnh và chủ thể đang được bàn luận. Là một học giả Việt, công dân Việt được đào tạo bài bản bởi hệ thống giáo dục của Pháp, giáo sư Phan Ngọc đã tiếp cận văn hóa theo cách của riêng mình. Một Cách Tiếp Cận Văn Hóa được ông gửi gắm qua cái nhìn và tư duy của chính ông nhưng ẩn sâu sau đó cũng là sự đại diện cho tình yêu của cả một dân tộc Việt về văn hóa xứ mình.
Phan Ngọc (1925 - 2020) là dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Ông được xem là "nhà bách khoa cuối cùng" của thế hệ trí thức Việt Nam được đào tạo dưới thời Pháp thuộc. Ông nguyên là chuyên viên cao cấp tại Viện Đông Nam Á, nguyên là Chủ nhiệm bộ môn đầu tiên của Bộ môn Ngôn ngữ học, Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Cụm công trình về văn hóa Việt Nam của ông gồm Văn Hóa Việt Nam Và Cách Tiếp Cận Mới (1994) và Tìm Hiểu Phong Cách Nguyễn Du Trong Truyện Kiều (1985) đã được Nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2000.
Tổng quan
Một Cách Tiếp Cận Văn Hóa là cuốn sách có giá trị trong việc "thức nhận lại" về văn hóa Việt Nam. Tác giả đưa ra những phân tích thấu đáo về nét văn hóa riêng của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, không hề bị trộn lẫn với các nền văn hóa khác, giúp độc giả có cái nhìn bao quát, thấu hiểu những diễn biến về con người và địa lý Việt Nam.
Qua những ví dụ sinh động và gần gũi, độc giả sẽ thấy được sự hình thành của văn hóa và cách đổi mới chính mình sao cho không mất đi bản sắc mà vẫn phù hợp với yêu cầu của hoàn cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Nội dung thứ nhất: Văn hóa Việt là hệ quả của quá trình "trồng trọt tinh thần".
Ngay từ những trang đầu của cuốn sách, tác giả - giáo sư Phan Ngọc đã khẳng định rằng, chúng ta có thể tiếp cận văn hóa bằng rất nhiều cách khác nhau, nhưng dù bằng cách nào, nó cũng phải gần với chính bản thân chúng ta nhất. Và với ông, văn hóa là một dạng "trồng trọt tinh thần", xuất phát từ nền nông nghiệp lúa nước.
Xét về mặt địa lý, Việt Nam ở góc tận cùng phía Đông - Nam, thuộc loại văn hóa gốc nông nghiệp điển hình. Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch. Vì lẽ đó, trong cách tư duy người Việt luôn lấy yếu tố trồng trọt, tưới tẩm, vun đắp làm đầu. Chúng ta không có những đấng thần linh siêu nhiên như người Hy Lạp, cũng không có tư duy dấu ấn cá nhân đậm nét như phương Tây.
Do sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên. Người Việt mở miệng là nói "lạy trời", "nhờ trời", "ơn trời". Thiên nhiên chính là thần linh của người Việt. Tổ tiên ta cũng tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về quan hệ giữa con người với thiên nhiên, thể hiện qua những câu tục ngữ như: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa...
Từ thực tế đó, ta thấy được logic trong lối tư duy của người Việt. Chẳng hạn, từ trồng trọt mà dân ta cho rằng có làm thì mới có ăn, rồi từ đó rút ra quan hệ nhân - quả, áp dụng cho nhiều khía cạnh khác trong đời sống. Bên cạnh đó, do trồng trọt đòi hỏi lối sống cộng đồng, văn hóa Việt cũng không có chỗ cho cái gọi là cá nhân hay khác biệt. Tất cả mối quan hệ giữa người với người đều nằm trọn trong tình làng nghĩa xóm hoặc một cộng đồng cư dân nào đó. Vì vậy, con người Việt Nam chỉ thấy an toàn khi được ở giữa một tập thể.
Nội dung thứ 2: Bó hẹp vào văn hóa truyền thống là tự sát.
Nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam suốt chiều dài lịch sử luôn bị ngoại bang dòm ngó. Yếu tố văn hóa bản địa và văn hóa tiếp xúc luôn giao thoa lẫn nhau. Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh giành độc lập, người Việt hiểu rằng tự bó hẹp vào truyền thống là tự sát. Vì thế, chúng ta chọn tiếp xúc văn hóa, chấp nhận nhiều nền văn hóa khác nhau cùng tồn tại ở một nơi và mỗi thế hệ phải có lựa chọn thông minh để đổi mới không ngừng mà vẫn không làm "mất chất". Và theo tác giả, người Việt đã thực hiện việc này một cách rất khéo léo.
Từ cội nguồn đầu tiên là văn hóa Môn - Khmer chuyên về nương rẫy và săn bắt lượm hái, cư dân Việt - Mường đã tiếp biến văn hóa của người Tày cổ để phát triển nền nông nghiệp lúa nước trong thung lũng và đồng bằng châu thổ. Tiếp đó, họ tiếp biến văn hóa của người Hán, người Thái và chuyển biến thành hai tộc người cư trú liền kề, chia nhau chiếm lĩnh phần lớn địa bàn Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Khi người Việt tái lập nhà nước, mở rộng địa bàn vào Nam, giữa người Việt và người Chăm, Hoa, Khmer cũng xảy ra sự tiếp biến văn hóa. Và gần đây nhất, khi tiếp xúc với văn hóá Pháp, văn hóa Việt lại biến đổi mạnh mẽ theo chiều hướng u hóa để hội nhập với phương Tây. Bốn chặng đường biến đổi lớn trong lịch sử đã làm cho văn hóa Việt tách khỏi cội nguồn của nó rất xa.
Tuy nhiên, chính nhờ đó mà văn hóa Việt Nam đã được đổi mới và được vun bồi để có thể thích ứng với những bối cảnh và thách thức mới mà vẫn giữ căn cốt của mình.
Một ví dụ điển hình về tính thích ứng của dân tộc Việt Nam chính là thực tế nước ta vẫn tồn tại và không bị đồng hóa sau hơn 1.000 năm chịu sự thống trị của Trung Hoa - đất nước liền kề có nền văn hóa cực kỳ lớn mạnh. Người Việt thể hiện bản lĩnh trí tuệ ở chỗ sáng tạo được biện pháp đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, qua đó đã vô hiệu hóa chủ trương đồng hóa ngôn ngữ của các triều đại phong kiến Trung Hoa.
Trong suốt chiều dài lịch sử, một đất nước nhỏ bé nhưng vẫn luôn gìn giữ được bản sắc riêng trước ngoại bang là nhờ sự thích ứng như thế.
Nội dung thứ 3: Phan Ngọc và giấc mơ Huế.
Giáo sư Phan Ngọc dành phần nhiều thời gian để nhắc đến Huế. Bởi theo ông, nếu làm tốt thì Huế sẽ là trung tâm văn hóa mang tầm châu lục. Là vùng đất cố đô, Huế mang trong mình bao trầm tích văn hóa, thậm chí hầu hết vẫn gần như nguyên vẹn sau hai cuộc chiến tranh. Ngoài những di sản vật thể và phi vật thể đã được nhân loại vinh danh, nét văn hóa, đạo đức, lối sống và cốt cách của người Huế cũng là "đặc sản" của vùng đất này.
Qua quá trình khảo sát, tác giả nhận định Huế nổi lên như một hiện tượng đặc biệt, từ một vùng biên viễn phương nam, "Ô châu ác địa" trở thành một trọng trấn rồi thủ phủ vùng miền, là kinh đô của cả nước thời Nguyễn, kế thừa rực rỡ nhiều thành tựu của đất nước. Tất cả chồng lớp, hòa quyện để làm nên "chất Huế" riêng có. Huế là thành phố di sản còn lưu giữ khá đậm các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Mọi thứ ở Huế mang một dáng vẻ được tác giả miêu tả bằng từ "thuỳ mị". Ông viết: "Ăn Huế không phải lai rai hay ăn nhậu mà là ăn theo lối cảnh vẻ. Mặc Huế không phải là mặc lòe loẹt vua chúa mà là mặc mộc tinh tế. Nhạc Huế không phải giật gân mà là tha thiết tâm ". Tất cả những đặc tính trên đều phù hợp với thời đại mới khi con người đã đủ đầy về mặt vật chất mà muốn có thêm những trải nghiệm tinh thần.
Phan Ngọc thừa nhận ông không phải là người con của Huế nhưng ông có một tình cảm rất đậm đà với vùng đất Cố đô. "Muốn hiểu Huế là gì thì phải đến Huế, đơn giản như vậy. Ta phải đào tạo ra những nhà Huế học. Tôi kêu gọi những người yêu mến văn hóá Việt góp phần để Huế mãi trường tồn, mãi mãi là cái nôi văn hóa trong nội tâm mình".
Tác phẩm như lời thổn thức của một công dân yêu nước muốn giữ gìn bản sắc Việt. Với tác giả Phan Ngọc, văn hóa là tổng hòa sự lựa chọn của tập thể. Khi con người còn có tự do thì họ có quyền lựa chọn. Và lựa chọn ấy gắn liền với những nhu cầu của tâm thức con người Việt Nam. Các nhu cầu này về cơ bản là như nhau ở mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, không liên quan tới tài sản, học vấn, danh vị, chức tước. Như vậy, tìm hiểu về văn hóa chính là hiểu dân tộc và tiếng nói của chính mình.
Mình chọn đọc quyển này vì có ham muốn tìm hiểu về văn hóa và nguồn cội của mình. Mình mong biết được sự bao quát và những khía cạnh trong nền văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên quyển sách này cung cấp nội dung theo một chiều hướng khác, đó là phân tích nền văn hóa trong sự khúc xạ, vượt gộp và biểu hiện trong quân sự, văn học, chữ viết, tôn giáo, tín ngưỡng, giáo dục, đời sống và tư tưởng. Mình biết được nguyên nhân của sự hình thành và quá trình phát triển của những yếu tố văn hóa được đề cập. Tác giả cũng phân tích về điểm mạnh và chỉ ra những điểm yếu cần khắc phúc để phát triển và đưa văn hóa của nước ta ra toàn thế giới. Mình thấy tự hào về giá trị của nền VH nước ta và yêu bản sắc dân tộc của mình nhiều hơn sau khi đọc quyển sách này.
Cuốn sách bắt đầu Phần I bằng cách định nghĩa thế nào là văn hóa. Theo tôi, đây là cách giải thích khá độc đáo và logic. Ông lập luận rằng văn hóa là một hiện tượng vừa phổ biến lại vừa mang tính cá biệt. Nó phổ biến với tính cách một đặc điểm chung của con người, bắt gặp ở mọi thể cộng đồng. Con người ở đâu cũng sống cùng một lúc với hai thế giới, thế giới thực tại và thế giới các biểu tượng. Con người không chỉ sống trong hiện tại mà sống cả trong quá khứ và tương lai, hai yếu tố thuộc thế giới biểu tượng. Cách ứng xử của con người xuất phát từ một hệ thống những nguyên lý trừu tượng của thế giới ý niệm đã hình thành một cách gần như tự nhiên.
Tiếp đến ở Phần II, Phan Ngọc dẫn dắt người đọc tìm hiểu sâu về hệ thống khái niệm trong văn hóa học do ông xây dựng. Các khái niệm phải là công cụ giúp người ta có thể dựa vào đó mà tìm đặc trưng văn hóa không lẫn lộn với bất kỳ đối tượng nào của mọi ngành khoa học, giúp chúng ta nhận biết và lý giải “tại sao” về những nét riêng của văn hóa Việt Nam so với văn hóa Trung Hoa, văn hóa Pháp... Trong đó, “độ khúc xạ” là một khái niệm công cụ căn bản và xuyên suốt trong lý thuyết của PGS. Phan Ngọc. Bắt nguồn từ vật lý học, khái niệm “khúc xạ” chỉ một tia sáng khi đi qua một vật nào đó thì không đi thẳng tắp mà theo một góc khúc xạ nào đó có thể đo được (trang 204). Áp dụng nguyên tắc này vào cách lý giải văn hóa Việt Nam, Phan Ngọc giải thích “độ khúc xạ” văn hóa là hiện tượng khi một tư tưởng ngoài, dù đó là Nho giáo, chủ nghĩa Mác, hay tư tưởng hậu công nghiệp, vào tâm thức Việt Nam, tức là nhập vào một tâm thức vốn chưa hề biết đến nó, thế nào cũng trải qua một độ khúc xạ, và do đó chịu một độ lệch. Nguyên nhân của độ lệch này là do sự du nhập văn hóa xảy ra trong môi trường thiên nhiên và xã hội, khách quan, bên ngoài cá nhân, chính vì vậy mà cá nhân không thể nhận thấy được.
Vậy là công dân Việt Nam, chúng ta cần làm gì để phát huy truyền thống văn hóa lâu đời, thể hiện tình yêu tổ quốc, nguồn cội và đồng bào mình bằng hành động, kết quả thực tế? Phần III của cuốn sách “Bản sắc văn hóa Việt Nam”là kết quả cô đọng từ những suy ngẫm sâu sắc, kho tàng kiến thức đồ sộ, và kinh nghiệm được tích lũy suốt cuộc đời nghiên cứu của tác giả Phan Ngọc để cống hiến cho độc giả một góc nhìn mới mẻ về phương thức gìn giữ và phát triển văn hóa dân tộc. Theo Phan Ngọc, các thao tác bảo vệ văn hóa cần bắt đầu từ nhận thức. Trước hết, chúng ta cần nhận diện đó là văn hóa gì, cái mới của văn hóa ở đâu, văn hóa ta hiện đang có những nhược điểm gì, và những nhược điểm ấy nằm ở đâu? Chúng ta cần đổi mới những gì để có một nền văn hóa vừa phù hợp với xu hướng của thời đại mới mà vẫn mang đậm bản sắc Việt Nam? Sau khi có được quan điểm vững vàng, chúng ta mới bắt tay vào hành động theo hướng khoa học khách quan của phương Tây. Ở đây, tác giả đưa ra quan điểm về việc sử dụng nhân lực hiệu quả vì con người là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển văn hóa. Theo ông, chúng ta cần phá vỡ việc đánh giá nhân cách một người căn cứ vào địa vị, chức tước, gia thế, thành phần, lý lịch để chỉ chấp nhận một tiêu chí duy nhất là sự cống hiến bằng lao động (trang 527). Có thể nói ngòi bút của Phan Ngọc đã tạo ra động lực giải mã văn hóa giá trị cho cộng đồng khoa học nhân văn và cho người đọc rộng rãi. Thông qua cuốn sách “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Phan Ngọc đã lần lượt tái hình dung khái niệm “văn hóa”, giới thiệu một hệ thống khái niệm nhất quán của văn hóa học, và gợi ý các thao tác cần để phát huy văn hóa. Trong đó có lý thuyết về “độ khúc xạ” khá mới mẻ được ông sử dụng để giải thích cho sự khác biệt của văn hóa Việt Nam so với văn hóa các dân tộc khác trên thế giới, qua đó khẳng định chủ quyền, bản sắc đậm đà của văn hóa Việt Nam.
Suy cho cùng, không ai có thể phủ nhận những giá trị to lớn mà tác phẩm “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của học giả Phan Ngọc đã đóng góp cho việc định hình ngành nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam theo hướng chuyên môn hóa, khoa học và tiên tiến hơn. Ở một góc độ nào đó, cuốn sách chính là lời gợi mở cho thế hệ học giả trẻ, những người quan tâm đến văn hóa học và văn hóa Việt Nam tiếp tục đào sâu và hoàn thiện lý thuyết về văn hóa học nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng.
Ngoài phần mở đầu cung cấp các khái niệm cơ bản (văn hoá là gì, sự khúc xạ văn hoá, văn minh khác vh ntn, giao lưu vh, sự thống nhất về ý thức hệ, thân phận, diện mạo con ng trong xh), sách gồm 2 phần nội dung chính yếu, phần 1 cho ng đọc cái nhìn rất thú vị về văn hoá miền bắc bộ và bắc trung bộ VN, thông qua phân tích chi tiết và so sánh với các đặc điểm vh lưu vực sông Hoàng Hà Trung Quốc (chữ viết, nhạc hoạ, Nho học, văn hoá nền tảng phân tích rõ từ nếp sinh hoạt & đặc điểm địa lý, chế độ cai trị, các khái niệm đạo đức, tôn giáo,đốixửvới phụnữ, chế độ học tập, thi cử, …)
Ngoài trọng tâm vh miền bắc-bắc trung bộ VN và vh Trung Quốc, ng đọc có cơ hội tham khảo số ít hơn các kiến thức, nguồn tài liệu liên quan đến vh Đông Nam Á, Chăm Pa, miền tây VN, lễ hội tín ngưỡng VN
Từ những phân tích khá khách quan thuần văn hoá đó, tác giả dùng làm cơ sở cho phần phía 2 của sách về lý luận cách mạng và đề xuất cơ sở phát triển vh nước VN sau này dựa vào những gốc rễ vh đã có kết hợp với vh phương Tây.
Mình biết đến sách này do được giới thiệu là sách cơ bản cần phải đọc cho những ai quan tâm đến ngành Văn hoá học. Và đúng như vậy, xuyên suốt sách ta thấy đề cập đến các lĩnh vực liên quan đến phương pháp luận của ngành cũng rất nhiều tài liệu tham khảo. Mặc dù mình có nhiều điểm không đồng ý với tác giả, đặc biệt ở việc cố nắn ép các kết luận theo hướng phục vụ cách mạng và xây dựng nước việt nam, tuy nhiên mình công nhận phần đầu quyển sách thực sự là một tài liệu rất hay và cuốn hút, cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa vh VN với vh Trung Quốc, gợi mở một số hướng tìm hiểu các nền vh khác trên thế giới, đồng thời phần nào lý giải được tình trạng hiện tại của vh VN.
Một số trích đoạn tham khảo:
“Nghiên cứu sản phẩm ở ngoài cái mô hình trong óc anh ta là chuyện của khoa học, kỹ thuật, chính trị, kinh tế, pháp luật. Nghiên cứu mô hình trong óc anh ta là chuyện của triết học, văn học, nghệ thuật. Còn nghiên cứu mỗi quan hệ giữa mô hình trong óc với mô hình anh ta tạo ra là chuyện của văn hoá học, biểu hiện thành “kiểu lựa chọn” riêng của cá nhân hay tộc người”
“Tại sao có một bề dày văn hoá như vậy mà VN chưa bao giờ giàu có cả?” “ham học nhưng học chỉ để làm quan, không phải để trau dồi khoa học kỹ thuật” “đề cao quá đáng thứ văn chương thiên về tán tụng, mà coi nhẹ các hiểu biết về thực tế sản xuất” “thiếu một ý thức vững vàng về giá trị con người ở ngay lao động” “mà ta sẽ thấy rõ các dẫn chứng ở các quan niệm và tục lệ sau đây”
“Khổng học là công cụ của thời quân chủ chuyên chế tuyệt đối và cực thịnh của TQ” “Khổng Tử không gạt bỏ mọi tính chất qua lại giua ng trên và ng dưới” “Khổng Tử không bao giờ nói đến Âm Dương và ngũ hành, ông chỉ xét con người trong các quan hệ giữ người với người thôi, tức là còn Tây Phương hơn đa số chúng ta” “Khổng giáo và chủ nghĩa Mác đều tìm cách thực hiện một xã hội ấm no ngay trong cuộc sống hiện tại, dưới đất, không chờ đợi ân huệ nào của thần linh mà do sự hợp tác của những con người để đạt đến mục tiêu chung”